1911
Được cử làm Tri huyện, sau đó làm Tri phủ Xuân Trường (tỉnh Nam Định), Án sát tỉnh Bắc Ninh; Tuần phủ các tỉnh Cao Bằng, Ninh Bình
1933
Được nhà Nguyễn tuyên triệu vào Triều đình Huế làm việc và được giữ chức Thượng thư Ngự Tiền, Văn phòng Nam Triều (1934), rồi làm Thượng thư bộ Hình (Bộ Tư pháp); sung Cơ mật viện Đại thần, hàm Chánh nhị phẩm và được thăng Hiệp tá Đại học sĩ hàm Tùng nhất phẩm. Sau đó ít lâu được phong hàm Chánh phẩm
1944
Nhà Vua ban tặng hàm Thái tử Thiếu bảo, và tham gia Viện Cơ mật của Triều đình Huế
3/1945
Nhật đảo chính Pháp, cụ từ chối tham gia chính phủ bù nhìn, cáo quan về sống ở Hà Đông, nhưng Chính phủ Nam Triều đã mời ở lại và giao giữ chức Chánh nhất Tòa Thượng thẩm ở Hà Nội
17/11/1945
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ tham gia Ban Cố vấn Chủ tịch nước, thành viên Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết đất nước
31/12/1945
Trưởng Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Ủy viên Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết
6/1/1946
Đại biểu Quốc hội khóa I của tỉnh Hà Đông (cũ), rồi được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Thường trực Quốc hội
11/1946
Tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội, cụ được bầu làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội
22/01/1947
Giữ chức Chủ tịch Ủy ban Tản cư và Di cư Trung ương
1947-1948
Hoạt động cách mạng ở chiến khu Việt Bắc. Tháng 8/1948, cụ bị bệnh nặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lệnh đưa Cụ về Liên khu 3 chữa trị
10/10/1954
Thủ đô Hà Nội hoàn toàn giải phóng, cụ trở về Hà Nội
13/4/1955
Cụ qua đời tại Hà Nội.