Quốc hội khóa XVI

Trang thông tin của Thông tấn xã Việt Nam
Hội đồng Bầu cử Quốc gia

Hội đồng Bầu cử Quốc gia

Hội đồng Bầu cử Quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Đổi mới công tác lập pháp

Đổi mới công tác lập pháp

Quốc hội đổi mới mạnh mẽ tư duy lập pháp theo hướng kiến tạo và dẫn dắt phát triển; tập trung hoàn thiện, đồng bộ thể chế để đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Xây dựng thể chế, giám sát

Xây dựng thể chế, giám sát

Quốc hội nâng cao chất lượng giám sát, coi giám sát là công cụ kiến tạo, thúc đẩy phát triển, gắn xây với chống, lấy xây là căn bản lâu dài.

Quyết định các vấn đề trọng đại

Quyết định các vấn đề trọng đại

Việc Quốc hội xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước đã dần đi vào nền nếp, nhiều hoạt động đã trở thành định kỳ với quy trình rõ ràng hơn, ngày càng có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

Ngoại giao Nghị viện

Ngoại giao Nghị viện

Ngoại giao Nghị viện đã trở thành một kênh quan trọng, bổ sung cho đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.

Quốc hội
khóa I
1946-1960
Quốc hội
khóa II
1960-1964
Quốc hội
khóa III
1964-1971
Quốc hội
khóa IV
1971-1975
Quốc hội
khóa V
1975-1976
Quốc hội
khóa VI
1976-1981
Quốc hội
khóa VII
1981-1987
Quốc hội
khóa VIII
1987-1992
Quốc hội
khóa IX
1992-1997
Quốc hội
khóa X
1997-2002
Quốc hội
khóa XI
2002-2007
Quốc hội
khóa XII
2007-2011
Quốc hội
khóa XIII
2011-2016
Quốc hội
khóa XIV
2016-2021
Quốc hội
khóa XV
2021-2026
Quốc hội
khóa XVI
2026-2031
ket-qua-khoa-1.png
Nguồn: Sách 80 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2026
(Nxb Thông tấn 2025)

🔶 Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử Việt Nam được tổ chức trên phạm vi toàn quốc, trong bối cảnh đất nước vừa giành độc lập nhưng còn đối mặt với vô vàn khó khăn, đặc biệt là sự chống phá quyết liệt của thực dân Pháp. Bất chấp mọi hiểm nguy, Nhân dân cả nước đã nô nức tham gia bầu cử với tỷ lệ lên tới 89%, riêng Hà Nội đạt 91,95% cử tri đi bỏ phiếu.  Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao (98,4%).

🔶 Tại Nam Bộ, cuộc bầu cử diễn ra dưới mưa bom, bão đạn, 42 cán bộ, chiến sĩ cách mạng đã anh dũng hy sinh, thể hiện tinh thần quyết tử vì quyền làm chủ của Nhân dân. Kết quả, 333 đại biểu ưu tú đã được bầu vào Quốc hội khóa I, đại diện cho các tầng lớp, giai cấp, dân tộc và tôn giáo trên cả nước.

🔶 Cuộc Tổng tuyến cử là sự kiện lịch sử trọng đại, mở đầu cho quá trình xây dựng chế độ dân chủ mới; là sự khởi đầu và phát triển của Quốc hội, một thiết chế dân chủ, trụ cột trong Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

DẤU ẤN NHIỆM KỲ

Là Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Quốc hội khóa I đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ cộng hòa. Do điều kiện chiến tranh, nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội khóa I kéo dài hơn 14 năm (từ 1/1946-5/1960). Trải qua 12 kỳ hợp với sự hoạt động linh hoạt, Ban Thường trực Quốc hội luôn có mặt bên cạnh Chính phủ để chỉ đạo công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Quốc hội đã ban hành 2 bản Hiến pháp (năm 1946, năm 1959), nhiều đạo luật, nghị quyết quan trọng, đàm phán, ký kết và đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva, khôi phục kinh tế miền Bắc... góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng, đưa miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chi viện cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

🔶  KỲ HỌP ĐẦU TIÊN CỦA QUỐC HỘI KHÓA I

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I họp ngày 2/3/1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, với sự tham dự của gần 300 đại biểu vừa được bầu thông qua Tổng tuyển cử. Trong kỳ họp rất ngắn, chỉ kéo dài từ 9 giờ sáng đến 13 giờ 30 phút, các đại biểu Quốc hội đã biểu quyết thông qua đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh mở rộng số đại biểu Quốc hội thêm 70 người thuộc Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội. Quốc hội cũng đã thông qua danh sách Chính phủ Liên hiệp kháng chiến Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu; thông qua Tuyên ngôn của Quốc hội; bầu Ban Thường trực Quốc hội do ông Nguyễn Văn Tố làm Trưởng Ban Dự thảo Hiến pháp…

🔶 CÙNG CHÍNH PHỦ KIÊN QUYẾT BẢO VỆ NỀN ĐỘC LẬP; XÂY DỰNG, CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN DÂN CHỦ NHÂN DÂN

Sau khi ra đời và đi vào hoạt động, trong bối cảnh đất nước đang đứng trước tình thế vô cùng khó khăn, thử thách, Quốc hội khóa I và Ban Thường trực Quốc hội đã cùng Chính phủ được Quốc hội bầu ra do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, đã khẩn trương đưa ra những chủ trương, quyết sách đúng đắn, linh hoạt kịp thời để bảo vệ, gin giữ nền độc lập; xây dựng, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân; bài trừ nội phản; động viên Nhân dân tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống; đẩy mạnh phong trào bình dân học vụ, xóa mù chữ; từng bước xây dựng nền tài chính quốc gia, phát hành giấy bạc; tranh thủ thời gian củng cố lực lượng; tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, v.v..

🔶 LẬP CHÍNH PHỦ MỚI VÀ THÔNG QUA HIẾN PHÁP ĐẦU TIÊN

Tại Kỳ họp thứ hai (28/10-9/11/1946), Quốc hội khóa I đã biểu quyết tán thành chính sách chung do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra, chấp nhận sự từ chức của Chính phủ Liên hiệp kháng chiến và ủy nhiệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng ra thành lập Chính phủ mới-Chính phủ Kháng chiến, theo nguyên tắc đoàn kết, tập hợp nhân tài, không phân biệt đảng phái và bầu Ban Thường trực Quốc hội, gồm 18 thành viên, do ông Bùi Bằng Đoàn làm Trưởng ban và các ông Tôn Đức Thắng, Tôn Quang Phiệt làm Phó Trưởng ban. Tại Kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1946, Dự án Luật Lao động và các nghị quyết về nội trị, ngoại giao.

Hiến pháp năm 1946 gồm Lời nói đầu, 7 chương và 70 điều. Đó là “bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà,... là một vết tích lịch sử, Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông". Hiến pháp đó “tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập..., dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do.... phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp".

(Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh)

🔶HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO BẢO VỆ NỀN ĐỘC LẬP DÂN TỘC

Trước tình hình đất nước ở thế “ngàn cân treo sợi tóc, Quốc hội đã trao quyền quyết định cho Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

Để giữ gìn nền độc lập, Chính phủ đã thực hiện sách lược ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo để loại bớt kẻ thù, tránh đổ máu, tranh thủ thời gian để củng cố và phát triển lực lượng. Theo đó, thay mặt Chính phủ, ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Chính phủ Pháp Hiệp định Sơ bộ 6/3.

Ngày 16/4/1946, Ban Thường trực Quốc hội đã cử phái đoàn gồm 10 đại biểu, do Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội Phạm Văn Đồng dẫn đầu thăm Pháp (từ ngày 25/4 đến 16/5/1946). Tiếp đó, từ ngày 6/7 đến ngày 13/9/1946, ông Phạm Văn Đồng dẫn đầu phải đoàn Chính phủ Việt Nam tham dự cuộc đàm phán chính thức Việt Pháp ở Fontainebleau. Cuộc đàm phán Việt-Pháp ở Fontainebleau, việc ký Tạm ước 14/9/1946, cũng như phái đoàn Quốc hội Việt Nam sang thăm nước Pháp đã nêu rõ thiện chí hòa bình và hữu nghị của Việt Nam trong mối quan hệ bang giao với nước Pháp. Uy tín của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

🔶QUỐC HỘI TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

Những nỗ lực đàm phán hòa bình giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Pháp vào giữa năm 1946 để công nhận một nước Việt Nam độc lập đã không thành công. Pháp quyết gây chiến tranh, không thi hành Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946 đã ký kết, đòi tước vũ khí của Việt Minh và liên tiếp gây ra các cuộc thảm sát ở Hải Phòng, Hà Nội, đẩy cuộc chiến tranh đến bùng nổ. Sáng 17/12/1946, tại Vạn Phúc, Hà Đông, Hội đồng Chính phủ đã họp với sự có mặt của Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn để thống nhất quyết định phát động cuộc kháng chiến trong cả nước. Trước tình thế hết sức khẩn trương, đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

Từ tháng 12/1946 đến tháng 7/1954, trên cơ sở Hiến pháp được Quốc hội thông qua (9/11/1946) và thực tiễn kháng chiến, Chính phủ đã ban hành khoảng 400 sắc lệnh và nhiều nghị định, thông tư để lãnh đạo cuộc kháng chiến, kiến quốc. Các sắc lệnh của Chính phủ được ban hành đều có sự thống nhất của Ban Thường trực Quốc hội. Ban Thường trực cũng đã góp ý kiến với Chính phủ về các nghị quyết và chương trình công tác quan trọng.

🔶 KỲ HỌP THỨ BA, QUỐC HỘI KHÓA I THÔNG QUA NHỮNG NGHỊ QUYẾT QUAN TRỌNG

Từ ngày 1/12 đến ngày 4/12/1953, Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa 1, Kỳ họp duy nhất được tổ chức tại Việt Bắc, có 166 đại biểu về dự (Bắc Bộ 94 đại biểu, Trung Bộ 62 đại biểu, Nam Bộ 10 đại biểu). Kỳ họp đã thảo luận và lần lượt thông qua Nghị quyết tín nhiệm Chính phủ; Nghị quyết biểu dương các đại biểu Quốc hội đã từ trần vì đất nước; Nghị quyết truất quyền đại biểu Quốc hội của những đại biểu đã rời bỏ nhiệm vụ kháng chiến và thông qua Dự án Luật Cải cách ruộng đất.

🔶 QUỐC HỘI VỚI NHỮNG THẮNG LỢI TRÊN MẶT TRẬN NGOẠI GIAO

Thắng lợi trên mặt trận quân sự là cơ sở để Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Sau khi Hội nghị bốn cường quốc tại Berlin (Đức) đồng ý triệu tập Hội nghị Geneva về Đông Dương, Ban Thường trực Quốc hội đã cùng Chính phủ thống nhất cử Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng dẫn đầu đoàn đại biểu đại diện cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự Hội nghị, đồng thời góp ý kiến chỉ đạo việc quyết định ký Hiệp định Geneva. Đêm 20 rạng ngày 21/7/1954, Hiệp định về lập lại hòa bình ở Đông Dương đã được ký tại Geneva (Thụy Sĩ).

Ngày 27/7/1954, Ban Thường trực Quốc hội họp Hội nghị mở rộng, ghi nhận thắng lợi trên mặt trận ngoại giao, thông qua Nghị quyết và Lời kêu gọi về việc ký kết các Hiệp định đình chiến ở Đông Dương gửi đại biểu Quốc hội và toàn dân, mở đầu giai đoạn đấu tranh thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Geneva, thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

🔶 HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG MỚI; QUYẾT ĐỊNH NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG

Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa I (20-26/3/1955) họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội. “Khóa họp này là khóa họp đấu tranh để thi hành Hiệp định Geneva, để đẩy mạnh cải cách ruộng đất, để phục hồi và phát triển kinh tế, để nâng cao đời sống nhân dân, để cùng có chính quyền, củng cố Quân đội nhân dân, tiến lên thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước." Đó cũng là kỳ họp đầu tiên trong hòa bình giữa Thủ đô giải phóng.

Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa I (15/9 - 20/9/1955) đã đề ra đường lối, phương châm đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ; phương hướng và giải pháp khôi phục kinh tế, củng cố miền Bắc làm cơ sở cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, thống nhất đất nước; đồng thời, quyết định một số vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước, Quốc kỳ, Quốc ca và Quốc huy của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

🔶THÔNG QUA CÁC CHƯƠNG TRÌNH KHÔI PHỤC, PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG

Xây dựng và củng cố miền Bắc là một nhiệm vụ hết sức to lớn và nặng nề được Quốc hội đặc biệt quan tâm. Quốc hội khẳng định nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế quốc dân bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, làm giảm bớt đời sống khó khăn của Nhân dân là nền tảng của toàn bộ công tác củng cố miền Bắc. Theo đó, tại các Kỳ họp thứ tư và thứ năm, Quốc hội khóa I đã thảo luận kỹ và thông qua Chương trình khôi phục, phát triển kinh tế, xã hội 3 năm (1955-1957) của Chính phủ; đồng thời, thông qua chính sách “Củng cố quốc phòng, củng cố quân đội".

🔶 ỦNG HỘ CUỘC ĐẤU TRANH CỦA ĐỒNG BÀO MIỀN NAM

Song song với việc thực hiện những nhiệm vụ khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 1955-1960, củng cố và xây dựng miền Bắc, Quốc hội khóa I đã luôn tỏ rõ ý chí của toàn dân kiên quyết đấu tranh đòi thi hành triệt để Hiệp định Geneva, bày tỏ sự căm phẫn và tố cáo những tội ác của đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với nhân dân miền Nam trước nhân dân thế giới.

🔶THÔNG QUA HIẾN PHÁP NĂM 1959

Kỳ họp thứ mười một, Quốc hội khóa I (18-31/12/1959) là một trong những kỳ họp lịch sử của Quốc hội Việt Nam. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Hiến pháp năm 1959. Bản Hiến pháp mới gồm 10 chương với 112 điều là nền tảng pháp lý cho thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Hiến pháp năm 1959 gồm Lời nói đầu, 10 chương và 112 điều, ghi rõ nước Việt Nam là một nước thống nhất có nhiều dân tộc, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Hiến pháp quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân, xây dựng một Nhà nước kiểu mới dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ theo pháp chế xã hội chủ nghĩa và cơ sở kinh tế của nhà nước là “tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội”.

🔶 HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI KHÓA I

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hoạt động giám sát bước đầu được hình thành, thể hiện rõ vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quốc hội khóa I đã tiến hành giám sát thông qua việc xem xét báo cáo của Chính phủ, chất vấn các thành viên Chính phủ tại các kỳ họp, và ban hành những nghị quyết quan trọng liên quan đến tình hình đất nước. Trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, chiến tranh tiếp diễn, hoạt động giám sát tuy chưa có cơ chế đầy đủ như ngày nay nhưng đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, tính chủ động và vai trò nền tảng trong việc bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm minh, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền non trẻ.

Đây chính là dấu ấn khởi đầu cho chức năng giám sát tối cao ngày càng hoàn thiện của Quốc hội trong những nhiệm kỳ tiếp theo.

🔶MỞ RỘNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI

Trong nhiệm kỳ khóa I, Quốc hội chưa có điều kiện để cử nhiều phái đoàn đi thăm và làm việc với Quốc hội các nước, song đã cố gắng đặt quan hệ trao đổi thư từ với Quốc hội Trung Quốc, Triều Tiên và nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác. Quốc hội cũng đã cử đại biểu tham gia các đoàn của Chính phủ đi thăm các nước xã hội chủ nghĩa. Hoạt động đối ngoại giai đoạn này nhằm thiết lập quan hệ ngoại giao của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với nhiều nước trên thế giới, mở rộng và phát triển quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, các nước trong phong trào giải phóng dân tộc và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các nước trên thế giới với công cuộc đấu tranh giữ gìn độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc.

CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT

🔶 KỲ HỌP ĐẦU TIÊN CỦA QUỐC HỘI KHÓA I

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 1 họp ngày 2/3/1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, với sự tham dự của gần 300 đại biểu vừa được bầu thông qua Tổng tuyển cử. Trong kỳ họp rất ngắn, chỉ kéo dài từ 9 giờ sáng đến 13 giờ 30 phút, các đại biểu Quốc hội đã biểu quyết thông qua đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh mở rộng số đại biểu Quốc hội thêm 70 người thuộc Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội. Quốc hội cũng đã thông qua danh sách Chính phủ Liên hiệp kháng chiến Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu; thông qua Tuyên ngôn của Quốc hội; bầu Ban Thường trực Quốc hội do ông Nguyễn Văn Tố làm Trưởng Ban Dự thảo Hiến pháp.

🔶 KỲ HỌP THỨ HAI, QUỐC HỘI KHÓA I LẬP CHÍNH PHỦ MỚI VÀ THÔNG QUA HIẾN PHÁP ĐẦU TIÊN

Từ ngày 28/10 đến ngày 9/11/1946, Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I đã biểu quyết tán thành chính sách chung do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra, chấp nhận sự từ chức của Chính phủ Liên hiệp kháng chiến và ủy nhiệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng ra thành lập Chính phủ mới-Chính phủ Kháng chiến, theo nguyên tắc đoàn kết, tập hợp nhân tài, không phân biệt đảng phái và bầu Ban Thường trực Quốc hội, gồm 18 thành viên, do ông Bùi Bằng Đoàn làm Trưởng ban và các ông Tôn Đức Thắng, Tôn Quang Phiệt làm Phó Trưởng ban. Tại Kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1946, Dự án Luật Lao động và các nghị quyết về nội trị, ngoại giao.

Thường trực Quốc hội, gồm 18 thành viên, do ông Bùi Bằng Đoàn làm Trưởng ban và các ông Tôn Đức Thắng, Tôn Quang Phiệt làm Phó Trưởng ban. Tại Kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1946, Dự án Luật Lao động và các nghị quyết về nội trị, ngoại giao.

🔶 KỲ HỌP THỨ BA, QUỐC HỘI KHÓA I THÔNG QUA NHỮNG NGHỊ QUYẾT QUAN TRỌNG

Từ ngày 1/12 đến ngày 4/12/1953, Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa 1, Kỳ họp duy nhất được tổ chức tại Việt Bắc, có 166 đại biểu về dự (Bắc Bộ 94 đại biểu, Trung Bộ 62 đại biểu, Nam Bộ 10 đại biểu). Kỳ họp đã thảo luận và lần lượt thông qua Nghị quyết tín nhiệm Chính phủ; Nghị quyết biểu dương các đại biểu Quốc hội đã từ trần vì đất nước; Nghị quyết truất quyền đại biểu Quốc hội của những đại biểu đã rời bỏ nhiệm vụ kháng chiến và thông qua Dự án Luật Cải cách ruộng đất.

🔶 KỲ HỌP THỨ TƯ, QUỐC HỘI KHÓA 1

Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa I (20-26/3/1955) họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội. “Khóa họp này là khóa họp đấu tranh để thi hành Hiệp định Geneva, để đẩy mạnh cải cách ruộng đất, để phục hồi và phát triển kinh tế, để nâng cao đời sống nhân dân, để cùng có chính quyền, củng cố Quân đội nhân dân, tiến lên thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước." Đó cũng là kỳ họp đầu tiên trong hòa bình giữa Thủ đô giải phóng.

🔶 KỲ HỌP THỨ NĂM, QUỐC HỘI KHÓA I

Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa I (15/9-20/9/1955) đã đề ra đường lối, phương châm đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ; phương hướng và giải pháp khôi phục kinh tế, củng cố miền Bắc làm cơ sở cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, thống nhất đất nước; đồng thời, quyết định một số vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước, Quốc kỳ, Quốc ca và Quốc huy của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

🔶 KỲ HỌP THỨ MƯỜI MỘT, QUỐC HỘI KHÓA I

Kỳ họp thứ mười một, Quốc hội khóa I (18-31/12/1959) là một trong những kỳ họp lịch sử của Quốc hội Việt Nam. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Hiến pháp năm 1959. Bản Hiến pháp mới gồm 10 chương với 112 điều là nền tảng pháp lý cho thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

CÁC LUẬT ĐƯỢC THÔNG QUA

9/11/1946

Thông qua Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946

1/1/1960

Ban hành Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1960 (Quốc hội thông qua ngày 31/12/1959)

8/11/1946

Thông qua Dự án Luật Lao động

19/12/1953

Ban hành Luật Cải cách ruộng đất

20/5/1957

+ Ban hành Luật Ðảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân
+ Ban hành Luật Quy định quyền lập hội
+ Ban hành Luật Quy định quyền tự do hội họp
+ Ban hành Luật về Chế độ báo chí

5/11/1957

Ban hành Luật Công đoàn

14/9/1957

+ Thông qua Luật Quy định chế độ xuất bản
+ Thông qua Luật Quy định Những trường hợp phạm pháp quả tang và Những trường hợp khẩn cấp
+ Thông qua Luật Quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp
+ Thông qua Luật Cấm chỉ mọi hành động đầu cơ về kinh tế
+ Thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương (ban hành ngày 31/5/1958)

31/5/1958

Ban hành Luật Quy định chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam

13/1/1960

+ Ban hành Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
+ Ban hành Luật Hôn nhân và gia đình

28/4/1960

Ban hành Luật Nghĩa vụ quân sự.

ii.jpg
Nguồn: Sách 80 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2026
(Nxb Thông tấn 2025)

🔶 Ngày 8/5/1960 - ngày bầu cử Quốc hội khóa II, là ngày hội của nhân dân miền Bắc. Gần 8,2 triệu cử tri miền Bắc, từ thành thị đến nông thôn, đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, đến bỏ phiếu tại 22.530 điểm bầu cử khắp miền Bắc. 362 đại biểu trúng cử Quốc hội khóa II cùng với 91 đại biểu miền Nam trong Quốc hội khóa 1 được quyết định kéo dài nhiệm kỳ đã thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc rộng rãi, phản ảnh đầy đủ ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.


DẤU ẤN NHIỆM KỲ

Quốc hội khóa II hoạt động trong thời kỳ đất nước bị chia cắt, đã góp phần quan trọng vào việc đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ, thực hiện thống nhất nước nhà, hướng tới xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã phát huy vai trò quan trọng của mình trong việc động viên sức người, sức của để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

🔶 TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Trong nhiệm kỳ của Quốc hội khóa II, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua 6 luật, 261 nghị quyết và pháp lệnh nhằm kiện toàn bộ máy nhà nước, phát huy dân chủ nhân dân, bảo vệ nhà nước, bảo vệ quyền lợi của công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 1959.

🔶 THÔNG QUA KẾ HOẠCH NHÀ NƯỚC 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT (1961-1965) Các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hằng năm được Quốc hội thông qua tại các kỳ họp. Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa II (28/4-8/5/1963), Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Trên cơ sở các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện đạt nhiều kết quả, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất, nâng cao đời sống Nhân dân về mọi mặt, đồng thời tăng cường củng cố quốc phòng, giữ gìn trật tự an ninh bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần thiết thực vào sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.

🔶 HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI KHÓA II

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa II (1960-1964), hoạt động giám sát tiếp tục được củng cố, từng bước hoàn thiện trong bối cảnh đất nước tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Quốc hội đã thực hiện quyền giám sát thông qua việc xem xét, đánh giá các báo cáo của Chính phủ và các cơ quan hữu quan; đồng thời, thông qua hoạt động chất vấn, thảo luận tại các kỳ họp, thể hiện rõ vai trò kiểm tra, đôn đốc việc thi hành Hiến pháp và pháp luật. Trong điều kiện đặc biệt của đất nước, hoạt động giám sát đã góp phần bảo đảm hiệu lực quản lý của Nhà nước, cũng cố niềm tin của Nhân dân vào bộ máy chính quyền và sự lãnh đạo của Đảng, từ đó tạo nền tảng cho những bước phát triển tiếp theo của Quốc hội.

🔶 HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI: TRANH THỦ SỰ ỦNG HỘ CỦA CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ

Trong điều kiện xây dựng đất nước ở miền Bắc và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống Mỹ ở miền Nam, hoạt động đối ngoại của Quốc hội ngày càng phong phú, đa dạng trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa. Quốc hội tập trung lên án sự leo thang chiến tranh, phá hoại hòa bình của Mỹ ngụy, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước anh em đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà. Quốc hội đã cử nhiều phái đoàn đi thăm các nước và đón tiếp các đoàn đại biểu nước ngoài đến thăm. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã phê chuẩn nhiều hiệp định, hiệp ước kinh tế, thiết lập quan hệ ngoại giao và cử đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài.

CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT

🔶 Kỳ họp thứ nhất họp từ ngày 6 đến 15/7/1960, tại Hà Nội

- Quốc hội bầu:

+ Chủ tịch nước: Hồ Chí Minh

+ Phó Chủ tịch nước: Tôn Ðức Thắng

+ Ủy ban Thường vụ Quốc hội: 21 thành viên chính thức và 5 thành viên dự khuyết

+ Chủ tịch Quốc hội: Trường Chinh

+ Thủ tướng: Phạm Văn Ðồng

+ Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Hoàng Quốc Việt

+ Chánh án Toà án nhân dân tối cao: Phạm Văn Bạch

- Quốc hội cử các ủy ban: Ủy ban Dự án pháp luật, Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách

🔶 Kỳ họp thứ 4 họp ngày 26/4/1962, Quốc hội ra tuyên bố chống chính sách xâm lược quân sự của Mỹ đối với miền Nam Việt Nam

🔶 Kỳ họp thứ 6 họp từ ngày 29/4 đến 4/5/1963

Quốc hội đã thông qua Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Miền Bắc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH; tiếp tục cải tạo XHCN, vừa củng cố và hoàn thiện sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân về mọi mặt, đồng thời tăng cường củng cố quốc phòng, giữ gìn trật tự an ninh bảo vệ sự nghiệp xây dựng XHCN, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.

Quốc hội khóa II kéo dài bốn năm (1960-1964), với tám kỳ họp.

CÁC LUẬT ĐƯỢC QUỐC HỘI KHÓA II THÔNG QUA

  • 🔶 26/7/1960:
    + Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
    + Luật Tổ chức Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
    + Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
    + Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân
  • 🔶 10/11/1962:
    + Luật Sửa đổi và bổ sung Luật Nghĩa vụ quân sự
    + Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính các cấp
  • 🔶 23/10/1961:
    Pháp lệnh về việc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp
  • 🔶 30/3/1961:
    Pháp lệnh Quy định cụ thể về tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao và tổ chức các Tòa án nhân dân địa phương
  • 🔶 4/10/1961:
    Pháp lệnh Quy định việc quản lý nhà nước đối với công tác phòng cháy và chữa cháy
  • 🔶 16/9/1961:
    Pháp lệnh Ðặt Huân chương và Huy chương Chiến sĩ vẻ vang
  • 🔶 12/8/1961:
    Pháp lệnh Quy định chế độ phục vụ của sĩ quan công an nhân dân vũ trang
  • 🔶 18/4/1962:
    Pháp lệnh Quy định cụ thể về tổ chức của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
  • 🔶 20/7/1962:
    + Pháp lệnh Quy định chế độ cấp bậc của sĩ quan và hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
    + Pháp lệnh Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
  • 🔶 5/4/1963:
    Pháp lệnh Quy định cơ quan phụ trách quản lý công tác phòng cháy và chữa cháy và chế độ cấp bậc của sĩ quan và hạ sĩ quan phòng cháy và chữa cháy
  • Các hiệp định, hiệp ước, công ước quốc tế được phê chuẩn: 
  • 4 hiệp ước/hiệp định song phương
  • 🔶 13/6/1963:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Lãnh sự giữa Việt Nam và Tiệp Khắc
  • 🔶 7/1/1963:
    + Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước Thương mại và Hàng hải giữa Việt Nam và Triều Tiên
    + Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước Thương mại và Hàng hải giữa Việt Nam và Trung Hoa
  • 🔶 24/11/1963:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Bưu chính và Điện chính giữa Việt Nam và Cuba
iii.jpg
Nguồn: Sách 80 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2026
(Nxb Thông tấn 2025)

🔶 Ngày 26/4/1964, cuộc bầu cử Quốc hội khóa III được tiến hành trên toàn miền Bắc. Hơn 8,58 triệu cử tri thuộc 31 tỉnh, khu, thành phố ở miền Bắc đã đi bỏ phiếu.

🔶 Tổng số đại biểu Quốc hội khóa III là 453 người, trong đó 366 đại biểu được bầu và 87 đại biểu khóa I của miền Nam lưu nhiệm. Kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa III tỏ rõ sự nhất trí về chính trị và tinh thần của xã hội miền Bắc, sự tín nhiệm của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

DẤU ẤN NHIỆM KỲ

Quốc hội khóa III được tổ chức theo Hiến pháp năm 1959, là Quốc hội của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, sự ủng hộ và giám sát thường xuyên của cử tri, trên cơ sở Hiến pháp, Quốc hội khóa III đã có những quyết sách phù hợp với tình hình thời chiến, nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, ra sức phấn đấu để xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hòa bình, dân chủ và giàu mạnh.

🔶 BỔ SUNG, SỬA ĐỔI VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Trước yêu cầu của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Quốc hội khóa III đã bổ sung, sửa đổi một số văn bản pháp luật quan trọng. Ngày 10/4/1965, Quốc hội thông qua Nghị quyết giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện một số quyền hạn của Quốc hội nhằm đáp ứng tình hình thực tiễn. Các văn bản pháp luật được thông qua trong giai đoạn này không chỉ góp phần củng cố bộ máy nhà nước, bảo vệ quyền lợi của Nhân dân, mà còn tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công cuộc huy động sức người, sức của chi viện tiền tuyến lớn và giữ vững hậu phương vững mạnh.

🔶 THÔNG QUA CÁC KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THỜI CHIẾN

Quốc hội khóa III đã lần lượt thông qua kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế hai năm 1966-1967 và kế hoạch nhà nước hằng năm từ năm 1966 đến năm 1971, nhằm thực hiện ba yêu cầu chủ yếu là:
1. Động viên cao độ lực lượng về mọi mặt để chiến đấu và chiến thắng, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam.
2. Giữ vững và phát triển sản xuất phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh, nhằm đáp ứng yêu cầu trước mắt, đồng thời chuẩn bị lâu dài cho mai sau.
3. Bảo đảm những nhu cầu thiết yếu của đời sống về ăn, mặc, ở, đi lại, bảo vệ sức khỏe và học hành.

🔶 CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI MIỀN BẮC LẦN THỨ NHẤT, CHI VIỆN MIỀN NAM ĐÁNH MỸ

Từ đầu năm 1965 với tinh thần "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", Quốc hội đã động viên nhân dân miền Bắc ra sức thi đua thực hiện tốt nhất các kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chi viện tích cực cho miền Nam đánh Mỹ.

🔶 ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU QUỐC DÂN MIỀN NAM VÀ SỰ RA ĐỜI CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG

Đại hội đại biểu Quốc dân miền Nam được triệu tập ngày 6/6/1969, gồm đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam cùng đại biểu của các lực lượng yêu nước khác ở miền Nam Việt Nam. Đại hội tuyên bố lập chính thể Cộng hòa miền Nam Việt Nam, bầu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng Cố vấn bên cạnh Chính phủ.

🔶 THỰC HIỆN DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta bước vào giai đoạn quyết liệt, một tổn thất vô cùng to lớn đối với dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (2/9/1969).
Biến đau thương thành hành động cách mạng, cả dân tộc Việt Nam đứng lên đoàn kết chung quanh Đảng, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm hoàn thành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, đấu tranh thống nhất nước nhà.
Tại Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa III (22-23/9/1969), Quốc hội đã bầu hai chiến sĩ lão thành cách mạng của Việt Nam là Tôn Đức Thăng và Nguyễn Lương Bằng làm Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

🔶 HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT GÓP PHẦN TĂNG CƯỜNG KỶ CƯƠNG, KỶ LUẬT

Thông qua việc xem xét các báo cáo của Chính phủ, thảo luận và thông qua những nghị quyết quan trọng về quốc phòng, kinh tế, xã hội, Quốc hội khóa III đã kịp thời điều chỉnh chủ trương, chính sách phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Hoạt động chất vấn, giám sát việc thi hành pháp luật tuy chưa rộng về quy mô nhưng mang tính trọng tâm, hiệu quả, góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong quản lý nhà nước. Quốc hội khóa III đã khẳng định vai trò là trung tâm đoàn kết toàn dân, cùng cả nước hướng tới mục tiêu độc lập, thống nhất và phát triển.

🔶 KHÔNG NGỪNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI

Hoạt động đối ngoại của Quốc hội khóa III không ngừng được mở rộng, góp phần hình thành và phát triển một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam bao gồm: các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, mặt trận nhân dân Đông Dương, phong trào giải phóng dân tộc, giai cấp của công nhân các nước tư bản chủ nghĩa, nhân dân tiến bộ Mỹ và tất cả những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Hoạt động đối ngoại Quốc hội giai đoạn này có ý nghĩa chiến lược quan trọng, đã phối hợp với các mặt trận quân sự, chính trị tạo thành sức mạnh tổng hợp để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT

🔶 Kỳ họp thứ nhất họp từ ngày 27/6 đến 3/7/1964, tại Hà Nội

- Quốc hội bầu:

+ Chủ tịch nước: Hồ Chí Minh

+ Phó Chủ tịch nước: Tôn Ðức Thắng

+ Ủy ban Thường vụ Quốc hội: 23 thành viên chính thức và 3 thành viên dự khuyết

+ Chủ tịch Quốc hội: Trường Chinh

+ Thủ tướng: Phạm Văn Ðồng

+ Các Ủy ban Thường trực của Quốc hội: Ủy ban Dự án pháp luật; Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách; Ủy ban Dân tộc; Ủy ban Thống nhất; Ủy ban Văn hóa và Xã hội

🔶 Kỳ họp thứ 4 họp từ ngày 19 đến 22/5/1968

Quốc hội ra Nghị quyết kéo dài nhiệm kỳ Quốc hội khóa III và giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IV khi nào tình hình cho phép.

🔶 Kỳ họp thứ 5 ngày 22/9/1969 họp phiên đặc biệt để truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh và bầu ông Tôn Đức Thắng giữ chức Chủ tịch nước

Quốc hội khóa III kéo dài từ tháng 6/1964 đến tháng 6/1971, với 7 kỳ họp.

CÁC LUẬT ĐƯỢC QUỐC HỘI KHÓA III THÔNG QUA

  • 🔶 25/4/1965:
    Luật sửa đổi và bổ sung Luật Nghĩa vụ quân sự
  • 🔶 27/10/1966:
    Pháp lệnh Quy định cấm nấu rượu trái phép
  • 🔶 11/4/1967:
    Pháp lệnh Quy định một số điểm về bầu cử và tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp trong thời chiến
  • 🔶 15/1/1970:
    Pháp lệnh Ðặt các danh hiệu vinh dự Nhà nước: Anh hùng lao động và Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
  • 🔶 27/1/1970:
    Pháp lệnh sửa đổi Ðiều 15 của Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao và tổ chức của Tòa án nhân dân địa phương ngày 23/3/1961
  • 🔶 27/1/1970:
    Pháp lệnh sửa đổi và bổ sung Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ngày 16/4/1962 
  • Các hiệp định, hiệp ước, công ước quốc tế được phê chuẩn
  • 🔶 28/1/1965:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Văn hóa giữa Việt Nam và Cộng hoà Arập thống nhất
  • 🔶 21/4/1965:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Thương mại dài hạn giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Cộng hoà Arập thống nhất
  • 🔶 19/8/1970:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Thương mại và Hiệp định Thanh toán giữa Việt Nam và Cộng hòa Arập Xyri
  • 🔶 2/2/1971:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Thương mại và Thanh toán giữa Việt Nam và Angiêri
iv.jpg
Nguồn: Sách 80 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2026
(Nxb Thông tấn 2025)

🔶 Ngày 11/4/1971, thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng thuộc 80 đơn vị bầu cử trên khắp miền Bắc đã đi bỏ phiếu bầu những đại diện xứng đáng vào Quốc hội khóa IV. Tỷ lệ cử tri đi bầu đạt 98,88%. Các cử tri đã lựa chọn bầu 420 đại biểu trong tổng số 529 ứng cử viên.

DẤU ẤN NHIỆM KỲ

Hoạt động trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh, Quốc hội khoa IV tiếp tục động viên quân và dân thực hiện hai nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, động viên sức người, sức của chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ.
Trong 4 năm hoạt động với 5 kỳ họp, Quốc hội đã thông qua những biện pháp đấu tranh bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris; nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, ổn định đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng, chuẩn bị lực lượng để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

🔶 VỚI SỰ NGHIỆP TIẾP TỤC XÂY DỰNG MIỀN BẮC NHỮNG NĂM 1971-1975

Từ năm 1971, nhân dân miền Bắc bắt tay vào thực hiện kế hoạch nhà nước ba năm (1971-1973) nhằm khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa. Kế hoạch trên được thông qua tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa IV (19-25/3/1972). Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua phương hướng điều chỉnh kế hoạch nhà nước năm 1972. Tiếp đó, tháng 8/1973, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua phương hướng, nhiệm vụ và những chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phục hồi và phát triển kinh tế quốc dân năm 1973. Đến Kỳ họp thứ tư (2/1974), Quốc hội đã phê duyệt phương hướng, nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế hai năm 1974-1975 và thông qua chỉ tiêu của kế hoạch nhà nước năm 1974. Kỳ họp thứ năm (12/1974), Quốc hội thông qua phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch nhà nước năm 1975.

🔶 BẢO ĐẢM TIỀM LỰC ĐÁNH THẮNG CUỘC CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ HAI VÀ CHIẾN LƯỢC "VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH" CỦA ĐẾ QUỐC MỸ

Các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 1971-1975 được Quốc hội thông qua tại các kỳ họp đã đạt được những thắng lợi quan trọng, bảo đảm sức mạnh để đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ. Đồng thời, dốc sức chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; chi viện cho cách mạng Lào và Campuchia. Nguồn chi viện lớn của miền Bắc đã tăng nhanh thế và lực cho quân dân ta trên chiến trường, đẩy mạnh thế chiến lược tiến công, làm thất bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ; đưa tới việc ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

🔶 HIỆP ĐỊNH PARIS VỀ VIỆT NAM

Sau gần 5 năm đàm phán gay go, quyết liệt, ngày 27/1/1973, tại Paris, Thủ đô nước Pháp, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Chính phủ Hoa Kỳ và Chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Nội dung chủ yếu của Hiệp định là Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Tại Kỳ họp thứ ba (18-21/2/1973), Quốc hội khóa IV thông qua Nghị quyết tán thành việc ký kết Hiệp định Paris; nhất trí thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định; đồng thời yêu cầu Chính phủ Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn phải tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều khoản của Hiệp định.

🔶 HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI KHÓA IV

Quốc hội khóa IV hoạt động trong giai đoạn lịch sử đặc biệt, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta dồn sức cho nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong hoàn cảnh đó, Quốc hội vẫn duy trì hiệu quả chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Thông qua các kỳ họp, Quốc hội đã xem xét, đánh giá các báo cáo quan trọng của Chính phủ, thảo luận và quyết nghị những vấn đề cấp thiết liên quan đến quốc phòng, an ninh, kinh tế và đời sống Nhân dân. Các hoạt động giám sát tuy triển khai trong điều kiện chiến tranh, nhưng luôn bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, góp phần củng cố kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước.
Quốc hội khóa IV đã tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm đoàn kết toàn dân tộc, chung sức đồng lòng vì mục tiêu độc lập, thống nhất và hòa bình.

🔶ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI

Phát huy những thắng lợi trên mặt trận quân sự và ngoại giao, Quốc hội khóa IV tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, tăng cường hoạt động quốc tế để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã mời và đón tiếp nhiều đoàn đại biểu từ các nước, các chính đảng, Quốc hội, các tổ chức tiến bộ từ châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi lần lượt đến thăm, mang đến cho nhân dân Việt Nam tình đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị thắm thiết.
Hàng trăm nghị sĩ Quốc hội, các nhân vật nổi tiếng ở các nước đã ra tuyên bố hoặc ký vào các bản kiến nghị lên án chính quyền Mỹ kéo dài cuộc chiến tranh ở Việt Nam, ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Để đẩy mạnh hơn nữa công tác ngoại giao nghị viện, tháng 2/1974, tại Kỳ họp thứ tư, Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội đã được thành lập.

CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT

🔶 Kỳ họp thứ nhất họp từ ngày 6 đến 10/6/1971, tại Hà Nội

- Quốc hội bầu:

+ Chủ tịch nước: Tôn Ðức Thắng

+ Phó Chủ tịch nước: Nguyễn Lương Bằng

+ Ủy ban Thường vụ Quốc hội, gồm 23 thành viên chính thức và 3 thành viên dự khuyết

+ Chủ tịch Quốc hội: Trường Chinh

+ Thủ tướng: Phạm Văn Ðồng

+ Các Ủy ban Thường trực của Quốc hội: Ủy ban Dự án pháp luật; Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách; Ủy ban Thống nhất; Ủy ban Dân tộc; Ủy ban Văn hóa và Xã hội.

🔶 Kỳ họp thứ 3 họp từ ngày 18 đến 21/2/1973, tại Hà Nội

Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam

* Tháng 2/1974, tại Kỳ họp thứ 4, Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội được thành lập

🔶 Kỳ họp thứ 5 họp từ ngày 23 đến 25/12/1974, Quốc hội thông qua Nghị quyết sửa đổi điều 11 và điều 12 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Quốc hội khóa IV kéo dài từ tháng 7/1971 đến tháng 3/1975 với 5 kỳ họp.

CÁC LUẬT ĐƯỢC QUỐC HỘI KHÓA IV THÔNG QUA

  • 🔶 11/9/1972 :Pháp lệnh Quy định việc bảo vệ rừng
khoa-v.jpg
Nguồn: Sách 80 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2026
(Nxb Thông tấn 2025)

🔶 Ngày 6/4/1975, trong khi những tin tức thắng trận từ miền Nam liên tiếp truyền về, hàng triệu cử tri miền Bắc đã nô nức đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa V. Cử tri đã bầu 424 đại biểu trong tổng số 527 người được giới thiệu ra ứng cử.

🔶 Tiếp sau đó, Kỳ họp thứ nhất đã được triệu tập họp từ ngày 3-6/6/1975 trong bối cảnh cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 vừa kết thúc toàn thắng, non sông thu về một mối, đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.

DẤU ẤN NHIỆM KỲ

Quốc hội khóa V là khóa Quốc hội ngắn nhất, từ tháng 4/1975 đến tháng 4/1976 và chỉ có hai kỳ họp. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã họp 10 phiên để quyết định nhiều vấn đề trọng đại của đất nước. Quốc hội khóa V quyết định các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, động viên Nhân dân thi đua xây dựng đất nước, củng cố quốc phòng, khẩn trương chuẩn bị thực hiện kế hoạch bầu Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất, hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước. Đặc biệt Quốc hội khóa V đã phê chuẩn kết quả Hội nghị Hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc về mặt nhà nước, trên cơ sở độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

🔶 GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

Với Đại thắng mùa Xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi. Đây là một trong những chiến thắng lịch sử oanh liệt nhất, lẫy lừng nhất của dân tộc Việt Nam. Một kỷ nguyên phát triển mới của cách mạng Việt Nam đã được mở ra: Kỷ nguyên hòa bình, độc lập, thống nhất cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

🔶 HIỆP THƯƠNG CHÍNH TRỊ THỐNG NHẤT TỔ QUỐC VỀ MẶT NHÀ NƯỚC

Từ ngày 15 đến ngày 21/11/1975, Hội nghị hiệp thương chính trị hai miền Nam-Bắc đã diễn ra tại thành phố Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), với 50 đại biểu tham dự. Hội nghị khẳng định nguyện vọng tha thiết của nhân dân Việt Nam ở cả hai miền là sớm thành lập một nhà nước chung nhằm phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa.

Hội nghị nhất trí cần tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử trên lãnh thổ Việt Nam để bầu ra Quốc hội chung của cả nước.

🔶 KHÔI PHỤC KINH TẾ, ỔN ĐỊNH XÃ HỘI, BẢO VỆ TỔ QUỐC

Từ ngày 22 đến ngày 27/12/1975, Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa V diễn ra tại Hà Nội. Quốc hội nhất trí phê chuẩn kết quả Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc về mặt nhà nước và quyết định kế hoạch Nhà nước năm 1976 với nhiệm vụ là nhanh chóng ổn định tình hình miền Nam, khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội ở hai miền đất nước; phê chuẩn ngân sách nhà nước năm 1976, phê chuẩn tổng quyết toán ngân sách năm 1974.

Quốc hội đã thông qua Nghị quyết bãi bỏ cấp khu trong hệ thống các đơn vị hành chính nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bãi bỏ những quy định trong Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về cấp khu tự trị và quyết nghị phê chuẩn hợp nhất một số tỉnh thành những tỉnh mới.

🔶 THÔNG QUA CÁC NGHỊ QUYẾT VỀ CÔNG TÁC PHÁP LUẬT; THỰC HIỆN CHỨC NĂNG GIÁM SÁT TỐI CAO

Trong nhiệm kỳ của Quốc hội khóa V, hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội đã diễn ra trên nhiều lĩnh vực.

Từ Kỳ họp thứ nhất (6/1975) đến Kỳ họp thứ hai (12/1975), Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã họp 10 phiên, thông qua 64 nghị quyết về các vấn đề thuộc quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong đó có các nghị quyết về công tác pháp luật; về giải quyết đơn, thư khiếu nại; về tổ chức nhà nước; về công tác khen thưởng. Quốc hội tiếp tục thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước.

🔶 MỞ RỘNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lại đất nước, Đảng và Nhà nước chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại và hợp tác với các nước nhằm tranh thủ sự hỗ trợ, giúp đỡ về vật chất cho công cuộc tái thiết đất nước sau hai cuộc kháng chiến kéo dài gần ba thập kỷ.

Hoạt động đối ngoại của Quốc hội khóa V chủ yếu là đón tiếp đoàn đại biểu Quốc hội các nước đến thăm và tổ chức các đoàn của Quốc hội Việt Nam đi thăm các nước nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của các nước anh em, bè bạn, góp phần tích cực vào việc giải quyết những khó khăn sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng và nâng cao vị thế của Việt Nam đối với thế giới.

CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT

🔶 Kỳ họp thứ nhất họp từ ngày 3 đến 6/6/1975, tại Hà Nội

- Quốc hội đã bầu:

+ Chủ tịch nước: Tôn Ðức Thắng

+ Phó Chủ tịch nước: Nguyễn Lương Bằng

+ Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 19 thành viên chính thức và 3 thành viên dự khuyết

+ Chủ tịch Quốc hội: Trường Chinh

+ Thủ tướng: Phạm Văn Ðồng

+ Các ủy ban: Ủy ban Pháp luật; Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách; Ủy ban Dân tộc; Ủy ban Văn hóa và Xã hội; Ủy ban Thống nhất; Ủy ban Đối ngoại.

🔶 Kỳ họp thứ 2 (từ ngày 22 đến 27/12/1975) Quốc hội đã nhất trí phê chuẩn kết quả của Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc.

Quốc hội khóa V là quốc hội ngắn nhất, từ 4/1975 đến tháng 4/1976, vì rút ngắn nhiệm kỳ để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của đất nước thống nhất.

khoa-vi.jpg
Nguồn: Sách 80 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2026
(Nxb Thông tấn 2025)

🔶 Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội nước Việt Nam thống nhất được tổ chức ngày 25/4/1976. Đây thực sự là ngày hội lớn của toàn dân Việt Nam. Trong không khí tưng bừng, trên 23 triệu cử tri, với tư thế của người làm chủ đất nước, đã nô nức làm nghĩa vụ công dân của mình bầu 492 đại biểu vào Quốc hội khóa VI - Quốc hội của nước Việt Nam độc lập, thống nhất.

DẤU ẤN NHIỆM KỲ

Quốc hội khóa VI đã quyết định đường lối, chính sách chung, cơ cấu tổ chức bộ máy và bầu các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thông qua các Nghị quyết về tên nước, Quốc kỳ, Quốc ca, quyết định đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn-Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh.

Quốc hội khóa VI đã đóng góp tích cực vào việc xây dựng hệ thống chính quyền mới ở miền Nam, xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất trong cả nước, thông qua Hiến pháp năm 1980, mở đầu cho bước phát triển mới trong tiến trình đi lên của đất nước.

🔶 XÂY DỰNG VÀ THÔNG QUA HIẾN PHÁP MỚI

Với trách nhiệm cao cả trước vận mệnh dân tộc, Quốc hội khóa VI đã soạn thảo và thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam-Hiến pháp năm 1980. Hiến pháp mới đã thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IV của Đảng. So với Hiến pháp năm 1959, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội về cơ bản không thay đổi, nhưng về cơ cấu tổ chức của Quốc hội có sự thay đổi lớn. Đó là việc thiết lập Hội đồng Nhà nước thay cho chế định Ủy ban Thường vụ Quốc hội và bổ sung vị trí Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội.

Bên cạnh đó, Quốc hội khóa VI còn thông qua Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và 5 pháp lệnh, là cơ sở pháp lý phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm quyền lực của Nhân dân theo tinh thần của Hiến pháp và pháp luật.

🔶 THÔNG QUA CÁC NGHỊ QUYẾT QUAN TRỌNG

Ngày 2/7/1976, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI đã thông qua các nghị quyết quan trọng về tên nước, Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô, Quốc ca của nước Việt Nam thống nhất. Theo đó, tên nước được đổi là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là sự kiện quan trọng, mang tính định hướng cho sự phát triển đất nước, đồng thời là tiền đề, động lực để đạt được những thành tựu vẻ vang sau này của cả dân tộc. Tên gọi của Quốc hội được bầu trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 25/4/1976 là Quốc hội khóa VI với ý nghĩa kế tục sự nghiệp của 5 khóa Quốc hội trước.


🔶 PHÊ CHUẨN KẾ HOẠCH NHÀ NƯỚC 5 NĂM LẦN THỨ HAI (1976-1980)

Trong hoàn cảnh đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, khó khăn bề bộn, tại các kỳ họp, Quốc hội khóa VI đã thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hằng năm và Kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ hai (1976-1980) theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng. Trên cơ sở đó, Chính phủ triển khai thực hiện quyết liệt và đã đạt được những thành tựu quan trọng trong cải tạo, khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.


🔶 VỚI NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhân dân ta lại phải đối mặt với những thử thách mới: chiến đấu chống chiến tranh xâm lược của tập đoàn Pol Pot- Ieng Sary (Campuchia) ở biên giới Tây Nam, bảo vệ Tổ quốc và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng (1975-1979) và giành chiến thắng trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc (từ ngày 17/2 đến ngày 18/3/1979).

Trong bối cảnh đó, Quốc hội kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết đập tan mọi hành động của các thế lực thù địch, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.


🔶 HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI KHÓA VI

Trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với muôn vàn khó khăn sau chiến tranh, Quốc hội đã không ngừng củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát. Thông qua các kỳ họp, Quốc hội tiến hành giám sát việc triển khai Hiến pháp năm 1980, thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Hoạt động giám sát không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước mà còn tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, thể hiện rõ vai trò của Quốc hội trong việc bảo đảm sự vận hành thống nhất, đồng bộ của bộ máy nhà nước trong một giai đoạn lịch sử đầy thử thách.


🔶 KIÊN TRÌ ĐƯỜNG LỐI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ

Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên trì đường lối độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế, hoạt động đối ngoại của Quốc hội khóa VI được triển khai rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, nhiều địa bàn và với các tổ chức quốc tế lớn nhằm giải quyết những vẫn đề có ý nghĩa chiến lược và những vấn đề phức tạp của đất nước trong quan hệ quốc tế. Quốc hội khóa VI đã thẩm tra và phê chuẩn nhiều hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với các nước. Cũng trong nhiệm kỳ này, Quốc hội Việt Nam đã được kết nạp là thành viên của Liên minh Nghị viện Thế giới (4/1979)

CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT

🔶 Kỳ họp thứ nhất họp từ ngày 24/6 đến 3/7/1976, tại Hà Nội

- Quốc hội đã bầu:

+ Chủ tịch nước: Tôn Ðức Thắng (đến tháng 4/1980); Quyền Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ (4/1980 - 7/1981)

+ Phó Chủ tịch nước: Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Hữu Thọ

+ Ủy ban Thường vụ Quốc hội, gồm 21 thành viên chính thức và 2 thành viên dự khuyết

+ Chủ tịch Quốc hội: Trường Chinh

+ Thủ tướng: Phạm Văn Ðồng

+ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Phạm Văn Bạch

+ Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Trần Hữu Dực

- Quốc hội thành lập: Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách; Ủy ban Dự án pháp luật; Ủy ban Dân tộc; Ủy ban Văn hóa và Giáo dục; Ủy ban Y tế và Xã hội; Ủy ban Đối ngoại.

- Quốc hội thông qua:

+ Nghị quyết về tên nước, Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô và Quốc ca của nước Việt Nam thống nhất. Lấy tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

+ Nghị quyết về việc chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn-Gia định là Thành phố Hồ Chí Minh.

🔶 Kỳ họp thứ 7 (họp từ ngày 12 đến 26/12/1980), Quốc hội đã thông qua Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hiến pháp mới - Hiến pháp 1980

Quốc hội khóa VI kéo dài 5 năm (1976-1981), với 7 kỳ họp.

CÁC LUẬT ĐƯỢC QUỐC HỘI KHÓA VI THÔNG QUA

  • 🔶 19/12/1980:
    Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980
  • 🔶 20/12/1980:
    Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • 🔶 2/12/1978:
    Pháp lệnh về việc Xin ân giảm án tử hình và xét duyệt án tử hình
  • 🔶21/11/1979:
    Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
  • 🔶 26/4/1980:
    Pháp lệnh sửa đổi và bổ sung một số điểm về thuế công thương nghiệp và thuế sát sinh
  • 🔶 22/1/1981:
    Pháp lệnh sửa đổi và bổ sung một số điều khoản của Pháp lệnh năm 1961 quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp
  • 🔶 15/9/1977:
    + Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Lào
    + Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Lào
  • 🔶 13/12/1977:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hữu nghị giữa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ Ðức
  • 🔶 29/11/1978:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô
  • 🔶 23/2/1979:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Campuchia
  • 🔶 28/6/1979:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam và Liên Xô
  • 🔶 18/12/1979:
    + Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Mông Cổ
    + Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam và Ba Lan
    + Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định lãnh sự Việt Nam và Bungari
    + Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ Ðức
    + Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam và Mông Cổ
  • 🔶 27/3/1980:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Tiệp Khắc
khoa-vii.jpg
Nguồn: Sách 80 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2026
(Nxb Thông tấn 2025)

🔶 Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VII được tổ chức ngày 26/4/1981, với tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu đạt 97,96%. Trong số 614 người ứng cử đại biểu Quốc hội tại 93 đơn vị bầu cử, đã có 496 người trúng cử.

🔶 Thắng lợi của cuộc bầu cử đã khẳng định, mặc dù đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế và đời sống, nhưng đồng bào, chiến sĩ và cán bộ cả nước đã thực hiện quyền làm chủ tập thể, sáng suốt lựa chọn được những đại biểu xứng đáng bầu vào cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân.

DẤU ẤN NHIỆM KỲ

Quốc hội khóa VII được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có những thuận lợi cơ bản, song còn nhiều khó khăn, phức tạp. Trên mặt trận kinh tế, đất nước đứng trước nhiều vấn đề gay gắt.

Trải qua 12 kỳ họp, Quốc hội đã phát huy vai trò cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nhân dân trong việc củng cố và hoàn thiện chế độ làm chủ tập thể; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa Hiến pháp, từng bước xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, tạo tiền đề để Nhà nước thực hiện quản lý mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội theo đúng Hiến pháp và pháp luật. Hoạt động trong giai đoạn bắt đầu của công cuộc đổi mới, Quốc hội khóa VII đã đẩy mạnh công tác lập pháp, tăng cường công tác giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng khác để đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước.

🔶 HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP:

Trong nhiệm kỳ khóa VII, với 12 kỳ họp, Quốc hội đã thông qua 10 đạo luật và 35 nghị quyết; Hội đồng Nhà nước ban hành 15 pháp lệnh. Ngoài các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước được ban hành mới theo Hiến pháp năm 1980, đáng chú ý là lần đầu tiên Quốc hội đã ban hành Bộ luật Hình sự (1985) gồm 280 điều quy định về tội phạm và hình phạt; Luật Hôn nhân gia đình (1986) gồm 57 điều trên cơ sở kế thừa và phát triển Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959... thể hiện bước phát triển đáng kể trong hoạt động lập pháp của Quốc hội.

🔶 PHÊ CHUẨN KẾ HOẠCH NHÀ NƯỚC HẰNG NĂM VÀ KẾ HOẠCH 5 NĂM (1981-1985); CẨN TRỌNG XEM XÉT, QUYẾT ĐỊNH CÁC CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI:

Từ cuối những năm 1970 đầu những năm 1980, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, nền kinh tế đất nước đứng trước những khó khăn gay gắt. Đảng và Chính phủ ban hành nhiều nghị quyết và quyết định từng bước sửa đổi cơ chế quản lý kinh tế.

Tại các kỳ họp lần thứ hai, thứ ba, thứ tư, căn cứ vào chủ trương, đường lối của Đại hội Đảng lần thứ V (3/1982), nghe các báo cáo của Hội đồng Bộ trưởng, Quốc hội khóa VII đã nghiên cứu và tập trung phân tích, thảo luận và thông qua các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hằng năm và phương hướng đến năm 1985; cẩn trọng xem xét, quyết định các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội nhằm khắc phục những khó khăn, sự mất cân đối, thâm hụt ngân sách,... đưa sản xuất phát triển.

Tuy nhiên, kế hoạch 5 năm (1981-1985) chưa thực hiện được mục tiêu do Đại hội V đề ra. Đất nước tiếp tục bị bao vây cấm vận. Trong quá trình thực hiện những biện pháp cải cách, đã phạm phải một số sai lầm nghiêm trọng làm trầm trọng thêm tình hình khủng hoảng kinh tế-xã hội.


🔶 TẬP TRUNG THÁO GỠ KHÓ KHĂN, TÌM ĐƯỜNG ĐỔI MỚI:

Với mục tiêu ổn định tình hình kinh tế-xã hội, đáp ứng yêu cầu cấp bách và thiết yếu nhất của đời sống Nhân dân, giảm nhẹ những mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế, trong những năm đầu của kế hoạch 5 năm (1981-1985), thực hiện nghị quyết của Quốc hội, Nhân dân cả nước đã kiên trì khắc phục khó khăn, ra sức lao động sản xuất, chủ động sáng tạo mở ra cách làm ăn mới với những hình thức tổ chức, quản lý năng động đưa đến những nét chuyển biến trên mặt trận xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa và củng cố quốc phòng.


🔶 GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC:

Trong nhiệm kỳ khóa VII, công tác giám sát của Quốc hội, Hội đồng Nhà nước được coi trọng, tập trung vào những vấn đề trọng yếu thuộc các lĩnh vực quản lý kinh tế-xã hội, thi hành Hiến pháp, pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Quốc hội đã chất vấn, xem xét báo cáo công tác của Chính phủ và các cơ quan hữu quan, thể hiện vai trò kiểm tra, đôn đốc và điều chỉnh kịp thời chính sách. Đặc biệt, tại Kỳ họp thứ mười, các đại biểu Quốc hội tập trung chất vấn vào việc đánh giá những sai lầm, khuyết điểm trong việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa V) về giá-lương-tiền; đồng thời đưa ra những biện pháp khắc phục.


🔶 HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI PHÁ THẾ BỊ BAO VÂY, CẤM VẬN:

Tuân thủ nguyên tắc đối ngoại nhất quán của Đảng, hoạt động đối ngoại của Quốc hội khóa VII nhằm tăng cường hợp tác toàn diện với Quốc hội các nước xã hội chủ nghĩa, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các nước trên thế giới để phá thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam. Quốc hội khóa VII cũng tranh thủ diễn đàn Liên minh Nghị viện để nêu rõ quan điểm, lập trường của Việt Nam; ủng hộ những sáng kiến hòa bình, bảo đảm an ninh chung của nhân loại, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam và thực hiện nghĩa vụ quốc tế với các nước trong khu vực và trên thế giới.

CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT

🔶 Kỳ họp thứ nhất họp từ ngày 24/6 đến 4/7/1981, tại Hà Nội

- Quốc hội bầu:

+ Hội đồng Nhà nước gồm 12 thành viên

+ Chủ tịch Hội đồng Nhà nước: Trường Chinh

+ Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Hữu Thọ

+ Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng: Phạm Văn Ðồng

+ Chánh án Toà án nhân dân tối cao: Phạm Hưng

+ Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Trần Lê

- Quốc hội thành lập: Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội, gồm: Ủy ban Pháp luật; Ủy ban Kinh tế, Kế hoạch và Ngân sách; Ủy ban Văn hóa và Giáo dục; Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật; Ủy ban Y tế và Xã hội; Ủy ban Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; Ủy ban Ðối ngoại.

🔶 Kỳ họp thứ 9 (từ ngày 21 đến 27/6/1985) Quốc hội thông qua Bộ Luật Hình sự

🔶 Kỳ họp thứ 12 (từ ngày 23 đến 29/12/1986) Quốc hội thông qua Luật Hôn nhân và gia đình

Quốc hội khóa VII kéo dài 6 năm (1981-1987), với 12 kỳ họp.

CÁC LUẬT ĐƯỢC QUỐC HỘI KHÓA VII THÔNG QUA 

  • 🔶 11/7/1981:
  • Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • 🔶 13/7/1981:
    + Luật tổ chức Tòa án nhân dân
    + Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân
  • 🔶 14/7/1981:
    Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • 🔶 10/1/1982:
    + Luật nghĩa vụ quân sự
    + Luật về sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam
  • 🔶 9/7/1983:
    Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban nhân dân
  • 🔶 2/1/1984:
    Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
  • 🔶 9/7/1985:
    Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • 🔶 3/1/1987:
    Luật Hôn nhân và gia đình
  • 🔶 3/12/1981:
    Pháp lệnh Quy định việc xét và giải quyết các khiếu tố, tố cáo của công dân
  • 🔶 23/5/1981:
    Pháp lệnh Trừng trị tội hối lộ
  • 🔶 10/7/1982:
    Pháp lệnh Trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép
  • 🔶 11/12/1982:
    Pháp lệnh Bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia
  • 🔶 3/3/1983:
    Pháp lệnh về Thuế Nông nghiệp
  • 🔶 11/3/1983:
    Pháp lệnh sửa đổi một số điều về Thuế Công thương nghiệp
  • 🔶 28/11/1983:
    Pháp lệnh về việc Phát hành công trái xây dựng Tổ quốc
  • 🔶 4/4/1984:
    Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
  • 🔶 3/6/1985:
    Pháp lệnh bổ sung, sửa đổi một số điểm trong Pháp lệnh về việc phát hành công trái xây dựng Tổ quốc
  • 🔶 4/6/1985:
    + Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước để tặng các nghệ sĩ, nhà giáo, thầy thuốc
    + Pháp lệnh quy định về giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước
  • 🔶 13/9/1985:
    Pháp lệnh về việc Phát hành tiền ngân hàng mới, thu đổi tiền ngân hàng cũ
  • 🔶 3/1/1986:
    + Pháp lệnh Tổ chức Tòa án quân sự
    + Pháp lệnh Tổ chức Viện kiểm sát quân sự
  • 🔶 8/11/1986:
    Pháp lệnh sửa đổi việc tính các định mức bằng tiền trong Ðiều lệ thuế công thương nghiệp và Ðiều lệ thuế hàng hóa
  • 🔶 16/6/1981:
    Nghị quyết phê chuẩn Công ước về quy chế pháp chế, quyền ưu đãi và miễn trừ của các tổ chức kinh tế liên quốc gia
  • 🔶 28/8/1981:
    Nghị quyết phê chuẩn Nghị định thư I ngày 6/8/1977 bổ sung các Công ước Giơnevơ ngày 12 tháng 8 năm 1949
  • 🔶 29/10/1981:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam và Cuba
  • 🔶 30/11/1981:
    Nghị quyết phê chuẩn Công ước về loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
  • 🔶 22/1/1982:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa nước Việt Nam và Liên Xô
  • 🔶 30/11/1982:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Cuba
  • 🔶 15/12/1982:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam và Pháp
  • 🔶 30/3/1983:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Tiệp Khắc
  • 🔶 31/8/1983:
    + Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Campuchia
  • + Nghị quyết phê chuẩn Nghị định thư tại Môngtơrêan ngày 30 tháng 9 năm 1977
  • 🔶 31/8/1984:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam và Nicaragoa
  • 🔶 30/1/1985:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam và Lào
  • 🔶 27/2/1985:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Hunggari
  • 🔶 26/3/1985:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định tương trợ tư pháp về vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự giữa Việt Nam và Cuba
  • 🔶 26/3/1985:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự giữa Việt Nam và Hunggari
  • 🔶 28/10/1985:
    Nghị quyết về phê chuẩn Công ước về năng lực pháp lý, quyền ưu đãi và miễn trừ của Hội đồng Tương trợ kinh tế mà Chính phủ Việt Nam ký với Chính phủ Ba Lan
  • 🔶 21/12/1985:
    Nghị quyết phê chuẩn Công ước quốc tế về viễn thông
  • 🔶 1/4/1986:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước bổ sung "Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Lào"
  • 🔶 30/1/1986:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định quy hoạch biên giới giữa Việt Nam và Campuchia
  • 🔶 16/2/1987:
    Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề về dân sự, gia đình và hình sự giữa Việt Nam và Bungari.
khoa-8.jpg
Nguồn: Sách 80 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2026
(Nxb Thông tấn 2025)

🔶 Ngày 19/4/1987, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII diễn ra trên phạm vi toàn quốc. Trong số 828 ứng cử viên, đã có 496 đại biểu được bầu, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu đạt 98,75%.

🔶 Với tinh thần dân chủ, nhân dân cả nước đã sáng suốt lựa chọn những đại biểu ưu tú, có phẩm chất, năng lực và khả năng thực hiện tốt nhiệm vụ mà nhân dân giao phó.

DẤU ẤN NHIỆM KỲ

Quốc hội khóa VIII (1987-1992) hoạt động trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đầu đổi mới, với nhiệm vụ trọng tâm là thể chế hóa đường lối đổi mới toàn diện do Đại hội VI của Đảng đề ra. Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật quan trọng, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với cơ chế kinh tế mới; tăng cường giám sát các lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội; quyết định những vấn đề lớn về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đặc biệt, tại kỳ họp cuối cùng (tháng 4/1992), Quốc hội khóa VIII đã thông qua Hiến pháp năm 1992 - văn bản pháp lý nền tảng, đánh dấu bước phát triển mới của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

🔶 XÂY DỰNG HỆ THỐNG LUẬT PHÁP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI

Với phương châm đổi mới tư duy pháp lý, công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội khóa VIII đã được thực hiện một cách tích cực. Trong 5 năm hoạt động, Quốc hội khóa VIII đã ban hành 2 bộ luật và 29 luật; Hội đồng Nhà nước ban hành 39 pháp lệnh. Nhiều đạo luật quan trọng về kinh tế như Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân... lần đầu tiên được ban hành đã thể chế hóa đường lối phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tạo cơ sở pháp lý, góp phần phát triển nền kinh tế đất nước.

🔶 THÔNG QUA HIẾN PHÁP NĂM 1992

Ngày 15/4/1992, tại Kỳ họp thứ mười một, Quốc hội khóa VIII đã thông qua Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp mới bao gồm: Lời nói đầu, 12 chương, 147 điều, sửa đổi căn bản, toàn diện Hiến pháp năm 1980. Hiến pháp khẳng định Nhà nước phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

🔶 PHÊ CHUẨN KẾ HOẠCH NHÀ NƯỚC 5 NĂM (1986-1990) VÀ CÁC KẾ HOẠCH, DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HẰNG NĂM

Trong nhiệm kỳ khóa VIII, Quốc hội đã phê chuẩn kế hoạch nhà nước 5 năm (1986-1990) với ba chương trình kinh tế lớn: Lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; phê duyệt các kế hoạch phát triển kinh tế và dự toán ngân sách nhà nước hằng năm. Tại các kỳ họp, Quốc hội tập trung thảo luận, thông qua các nghị quyết, triển khai thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, từng bước phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

🔶 THỂ CHẾ HÓA VÀ THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG

🔶 TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT

Quốc hội khóa VIII là Quốc hội đầu tiên hoạt động trong thời kỳ đổi mới, đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của đất nước trên con đường phát triển kinh tế-xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh chuyển đổi cơ chế quản lý từ bao cấp sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, hoạt động giám sát của Quốc hội được tăng cường cả về phạm vi, nội dung và phương thức. Quốc hội đã giám sát chặt chẽ việc thực hiện các chủ trương đổi mới, công tác quản lý kinh tế, ngân sách, cải cách hành chính và đời sống Nhân dân. Các phiên chất vấn và thảo luận tại các kỳ họp trở nên sôi nổi, thực chất hơn, thể hiện tinh thần dân chủ, trách nhiệm và quyết tâm đổi mới hoạt động lập pháp và giám sát. Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa VIII đã góp phần quan trọng vào việc thể chế hóa, đưa đường lối đổi mới của Đảng vào cuộc sống.

🔶 THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI RỘNG MỞ

Thực hiện công cuộc đổi mới, đường lối đối ngoại trong giai đoạn này được xác định là giữ vững hòa bình, tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Với phương châm "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển", Quốc hội và Hội đồng Nhà nước đã chủ động, tích cực triển khai có hiệu quả các hoạt động đối ngoại trên nhiều hướng, từng bước cải thiện mối quan hệ với các nước láng giềng và nhiều nước khác trên thế giới.

CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT

🔶 Kỳ họp thứ nhất họp từ ngày 17 đến 22/6/1987, tại Hà Nội

- Quốc hội đã bầu:

+ Hội đồng Nhà nước, gồm 15 thành viên

+ Chủ tịch Hội đồng Nhà nước: Võ Chí Công

+ Chủ tịch Quốc hội: Lê Quang Ðạo

+ Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng: Phạm Hùng (đến 10/3/1988), Quyền Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt (3/1988 - 6/1988), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ðỗ Mười (6/1988 - 8/1991)

+ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Phạm Hưng

+ Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Trần Quyết

+ Hội đồng Dân tộc và 7 Ủy ban Thường trực của Quốc hội gồm: Ủy ban Pháp luật; Ủy ban Kinh tế, Kế hoạch và Ngân sách; Ủy ban Văn hoá và Giáo dục; Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật; Ủy ban Y tế và Xã hội; Ủy ban Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; Ủy ban Ðối ngoại.

🔶 Kỳ họp thứ 11 (từ ngày 24/3 đến 15/4/1992), Quốc hội đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

Quốc hội khóa VIII kéo dài 5 năm (1987-1992), với 11 kỳ họp.

CÁC LUẬT ĐƯỢC QUỐC HỘI KHÓA VIII THÔNG QUA

  • 🔶 18/4/1992:
    Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
  • 🔶 8/1/1988:
    Luật Đất đai
  • 🔶 9/1/1988:
    Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
  • 🔶 9/7/1988:
    + Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
    + Luật Quốc tịch Việt Nam
  • 🔶 11/1/1988:
    Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch
  • 🔶 4/1/1989:
    + Luật sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
    + Luật sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
  • 🔶 11/7/1989:
    + Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân
    + Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
    + Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
  • 🔶 2/1/1990:
    + Luật Báo chí
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự
  • 🔶 30/6/1990:
    Bộ luật Hàng hải Việt Nam
  • 🔶 7/7/1990:
    + Luật Công đoàn
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
  • 🔶 8/8/1990:
    + Luật Thuế doanh thu
    + Luật Thuế Lợi tức
    + Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt
  • 🔶 12/7/1990:
    Bộ luật Hàng hải Việt Nam
  • 🔶 2/1/1991:
    + Luật Công ty
    + Luật Doanh nghiệp tư nhân
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam
  • 🔶 16/8/1991:
    + Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
    + Luật Phổ cập giáo dục tiểu học
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự
  • 🔶 19/8/1991:
    Luật Bảo vệ và phát triển rừng
  • 🔶 4/1/1992:
    + Luật Hàng không dân dụng Việt Nam
    + Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
  • 🔶 18/4/1992:
    + Luật Bầu cử Ðại biểu Quốc hội
    + Luật Tổ chức Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • 🔶 14/11/1987:
    Pháp lệnh về Lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam
  • 🔶 28/11/1987:
    Pháp lệnh bổ sung, sửa đổi một số điều trong Ðiều lệ về thuế công thương nghiệp và Ðiều lệ về thuế hàng hóa
  • 🔶 30/12/1987:
    Pháp lệnh Tổ chức luật sư
  • 🔶 20/5/1988:
    Pháp lệnh về Kế toán và thống kê
  • 🔶 10/12/1988:
    Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam
  • 🔶 22/11/1988:
    Pháp lệnh Nghĩa vụ lao động công ích
  • 🔶 13/3/1989:
    Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều trong các Pháp lệnh, Ðiều lệ về Thuế công thương nghiệp và thuế hàng hóa
  • 🔶 17/4/1989:
    Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự
  • 🔶 5/5/1989:
    Pháp lệnh Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
  • 🔶 7/8/1989:
    Pháp lệnh về Tài nguyên khoáng sản
  • 🔶 7/12/1989:
    + Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
    + Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính
  • 🔶 31/8/1989:
    Pháp lệnh Thi hành án dân sự
  • 🔶 29/9/1989:
    Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế
  • 🔶 25/10/1989:
    Pháp lệnh về Ký kết và thực hiện điều ước Quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • 🔶 11/2/1989:
    + Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
    + Pháp lệnh Lực lượng cảnh sát nhân dân Việt Nam
    + Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh về Thuế nông nghiệp
  • 🔶 16/11/1989:
    Pháp lệnh Ðê điều
  • 🔶 23/2/1990:
    Pháp lệnh Hải quan
  • 🔶 1/4/1990:
    Pháp lệnh Thanh tra
  • 🔶 24/5/1990:
    + Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
    + Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính
  • 🔶 16/7/1990:
    Pháp lệnh Ðo lường
  • 🔶 9/4/1990:
    + Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Tổ chức Tòa án quân sự
    + Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Tổ chức Viện kiểm sát quân sự
    + Pháp lệnh Thuế tài nguyên
  • 🔶 10/9/1990:
    + Pháp lệnh Hợp đồng lao động
    + Pháp lệnh Thừa kế
  • 🔶 24/11/1990:
    Pháp lệnh Lãnh sự
  • 🔶 12/1/1990:
    Pháp lệnh Trọng tài kinh tế
  • 🔶 1/7/1991:
    Pháp lệnh Thuế nhà, đất
  • 🔶 2/1/1991:
    Pháp lệnh Chất lượng hàng hóa
  • 🔶 6/4/1991:
    Pháp lệnh Nhà ở
  • 🔶 7/1/1991:
    Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
  • 🔶 7/5/1991:
    + Pháp lệnh Hợp đồng dân sự
    + Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân
  • 🔶 8/11/1991:
    Pháp lệnh Bảo vệ bí mật Nhà nước
  • 🔶 19/9/1991:
    + Pháp lệnh Bảo hộ lao động
    + Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát Nhân dân Việt Nam
    + Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về Lực lượng An ninh Nhân dân Việt Nam
  • 🔶 29/2/1992: 
  • Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam
  • 🔶 Các hiệp định, hiệp ước, công ước quốc tế được phê chuẩn:
  • 🔶 Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định về hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa Ấn Độ (ban hành ngày 28/4/1987).

  • 🔶 Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Ápganixtan (ban hành ngày 5/2/1988).

  • 🔶 Nghị quyết phê chuẩn Nghị định thư bổ sung lần thứ ba Hiến chương tổ chức Liên minh bưu chính thế giới (ban hành ngày 17/10/1989).

  • 🔶 Nghị quyết phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về các quyền trẻ em (ban hành ngày 20/2/1990).

  • 🔶 Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (ban hành ngày 24/5/1990).

  • 🔶 Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định gia hạn nợ giữa Libi và Việt Nam (ban hành ngày 29/10/1990).
khoa-9.jpg

Nguồn: Sách 80 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2026

(Nxb Thông tấn 2025)

🔶 Ngày 19/7/1992, trong không khí của ngày hội lớn, gần 37,2 triệu cử tri cả nước đã đến các điểm bầu cử để lựa chọn 395 đại biểu trong tổng số 601 ứng cử viên để bầu vào cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước.

🔶 Cuộc bầu cử Quốc hội khóa IX đã thành công tốt đẹp, cơ cấu thành phần của 395 đại biểu phản ánh khối đại đoàn kết toàn dân, tiêu biểu cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân cả nước, là kết quả của sự lựa chọn sáng suốt, dân chủ của cử tri.

DẤU ẤN NHIỆM KỲ

Quốc hội khóa IX (1992-1997) được cử tri cả nước bầu ra ngày 19/7/1992.

Trải qua nhiệm kỳ 5 năm, Quốc hội khóa IX đã đóng vai trò quan trọng trong việc thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000 do Đại hội Đảng lần thứ VII đề ra. Hoạt động của Quốc hội khóa IX đã góp phần đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới sâu sắc và toàn diện, phát huy vai trò của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực sự là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

🔶 TỪNG BƯỚC XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HOÀN CHỈNH, ĐỒNG BỘ

Quốc hội khóa IX đã dành nhiều thời gian, trí tuệ cho công tác xây dựng pháp luật, thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000 của Đảng theo tinh thần Hiến pháp năm 1992 và Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng.

Trải qua 11 kỳ họp, Quốc hội thông qua 36 luật và bộ luật, 43 pháp lệnh, điều chỉnh các lĩnh vực kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng, tổ chức chính quyền các cấp... Quốc hội đã tập trung thông qua các văn bản cần thiết nhằm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thiết lập hệ thống chính sách nhất quán, tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho sự phát triển của các thành phần kinh tế.

🔶 QUYẾT ĐỊNH CÁC KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

Trong nhiệm kỳ khóa IX, Quốc hội thường xuyên xem xét, quyết định về nhiệm vụ kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh và ngân sách nhà nước. Quốc hội đã ra các nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế, về dự toán ngân sách nhà nước và phê chuẩn tổng quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm.

Ngày 12/11/1996, tại Kỳ họp thứ mười, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch 5 năm 1996-2000. Đây là lần đầu tiên sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Quốc hội đã có nghị quyết về nhiệm vụ, kế hoạch dài hạn. Với những quyết sách quan trọng của Quốc hội cùng sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, nền kinh tế tiếp tục có bước phát triển nhanh chóng. Trong vòng 5 năm (1991-1995), tổng sản phẩm trong nước tăng 8,2%/năm.

Đất nước dần ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội.

🔶 TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TRÊN CÁC LĨNH VỰC

Quốc hội khóa IX hoạt động trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới sau khi Hiến pháp năm 1992 được ban hành, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện.

Trong nhiệm kỳ này, hoạt động giám sát của Quốc hội tiếp tục được tăng cường, tập trung vào những vấn đề trọng yếu như thực hiện pháp luật, quản lý kinh tế, ngân sách nhà nước, cải cách bộ máy hành chính và nâng cao hiệu lực quản lý của các cơ quan nhà nước. Các phiên chất vấn tại Quốc hội được đổi mới, thể hiện tinh thần dân chủ, công khai và trách nhiệm trước Nhân dân. Thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội đã góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội và củng cố lòng tin của cử tri vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trong giai đoạn phát triển quan trọng của đất nước.

🔶 TÍCH CỰC TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI THEO PHƯƠNG CHÂM: "ĐA PHƯƠNG HÓA, ĐA DẠNG HÓA"

Quốc hội khóa IX đã triển khai hoạt động đối ngoại một cách chủ động, tích cực theo nhiều hướng. Thực hiện có kết quả chính sách rộng mở "đa phương hóa, đa dạng hóa" quan hệ đối ngoại; từng bước cải thiện quan hệ với các nước láng giềng và nhiều nước khác; tham gia các tổ chức nghị viện quốc tế, góp phần tạo ra điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT

🔶 Kỳ họp thứ nhất họp từ ngày 19/9 đến 8/10/1992, tại Hà Nội

- Quốc hội bầu:

+ Chủ tịch nước: Lê Ðức Anh

+ Phó Chủ tịch nước: Nguyễn Thị Bình

+ Ủy ban Thường vụ Quốc hội, gồm 13 thành viên

+ Chủ tịch Quốc hội: Nông Ðức Mạnh

+ Thủ tướng: Võ Văn Kiệt

+ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Phạm Hưng

+ Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Lê Thanh Ðạo

+ Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội: Ủy ban Pháp luật; Ủy ban Kinh tế và Ngân sách; Ủy ban Quốc phòng và An ninh; Ủy ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; Ủy ban về Các vấn đề xã hội; Ủy ban Khoa học-Công nghệ và Môi trường; Ủy ban Ðối ngoại.

+ Trưởng Ðoàn Thư ký: Vũ Mão

Quốc hội khóa IX kéo dài 5 năm (1992-1997) với 11 kỳ họp.

CÁC LUẬT ĐƯỢC QUỐC HỘI KHÓA IX THÔNG QUA

  • 🔶 2/10/1992:
    Luật Tổ chức Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • 🔶 10/10/1992:
    + Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
    + Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân
  • 🔶 2/1/1993:
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
  • 🔶 19/7/1993:
    + Luật Dầu khí
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế doanh thu
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế lợi tức
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
    + Luật Xuất bản
  • 🔶 24/7/1993:
    + Luật Ðất đai
    + Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp
  • 🔶 5/7/1994:
    + Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
    + Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
    + Luật Khuyến khích đầu tư trong nước
    + Luật sửa đổi một số điều của Luật Công ty
    + Luật sửa đổi một số điều của Luật Doanh nghiệp tư nhân
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự
    + Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
    + Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất
  • 🔶 10/1/1994:
    + Luật Bảo vệ môi trường
    + Luật Phá sản doanh nghiệp
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
  • 🔶 30/4/1995:
    + Luật Doanh nghiệp nhà nước
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam
  • 🔶 9/11/1995:
    + Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế doanh thu
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt
  • 🔶 3/4/1996:
    + Luật Hợp tác xã
    + Luật Khoáng sản
    + Luật Ngân sách nhà nước
  • 🔶 17/4/1997:
    Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội
  • 🔶 22/5/1997:
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự
    + Luật Thuế giá trị gia tăng
    + Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp
  • 🔶 23/5/1997:
    Luật Thương mại
  • 🔶 10/8/1992:
    Pháp lệnh về Thuế nhà đất
  • 🔶 15/2/1993:
    + Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật
    + Pháp lệnh Thú y
  • 🔶 20/3/1993:
    + Pháp lệnh Phòng chống lụt bão
    + Pháp lệnh Thi hành án phạt tù
  • 🔶 26/4/1993:
    + Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài
    + Pháp lệnh Tổ chức Tòa án quân sự
    + Pháp lệnh Tổ chức Viện Kiểm sát quân sự
    + Pháp lệnh Thi hành án dân sự
  • 🔶 26/5/1993:
    + Pháp lệnh về Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân
    + Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân
  • 🔶 7/9/1993:
    Pháp lệnh về Quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam
  • 🔶 13/1/1993:
    Pháp lệnh về Hành nghề y dược tư nhân
  • 🔶 15/12/1993:
    + Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
    + Pháp lệnh về Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài
  • 🔶 3/6/1994:
    + Pháp lệnh Bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự
    + Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thuế nhà đất
    + Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người thu nhập cao
  • 🔶 29/3/1994:
    + Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
    + Pháp lệnh Thuế bổ sung đối với hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp vượt quá hạn mức diện tích
  • 🔶 10/9/1994:
    + Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi
    + Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng"
    + Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng
  • 🔶 10/12/1994:
    + Pháp lệnh Bảo hộ Quyền tác giả
    + Pháp lệnh Bảo vệ công trình giao thông
    + Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thủy văn
  • 🔶 25/10/1994:
    + Pháp lệnh về Quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất
    + Pháp lệnh về Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất tại Việt Nam
  • 🔶 19/7/1995:
    Pháp lệnh sửa đổi điều 6 Pháp lệnh Lực lượng cảnh sát nhân dân
  • 🔶 10/7/1995:
    Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính
  • 🔶 27/9/1995:
    Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam Quyết định của Trọng tài nước ngoài
  • 🔶 12/6/1995:
    + Pháp lệnh Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)
    + Pháp lệnh về Hàm, Cấp ngoại giao
  • 🔶 22/1/1996:
    Pháp lệnh về Dân quân tự vệ
  • 🔶 24/2/1996:
    Pháp lệnh về Giám sát và hướng dẫn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hướng dẫn và kiểm tra của Chính phủ đối với Hội đồng nhân dân
  • 🔶 20/4/1996:
    Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
  • 🔶 3/6/1996:
    Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
  • 🔶 3/7/1996:
    + Pháp lệnh về Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ở mỗi cấp
    + Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ
  • 18/2/1997:
    Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
  • 🔶 7/4/1997:
    Pháp lệnh Bộ đội biên phòng
  • 🔶 Các định, hiệp ước, công ước quốc tế được phê chuẩn :
  • 🔶 22/9/1992:
  • Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam và Irắc
  • 🔶 23/6/1994:
    Nghị quyết về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982
  • 🔶 15/11/1994:
    Quyết định phê chuẩn Hiệp định giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Hunggari về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thuế đánh vào thu nhập.
khoa-10.jpg

Nguồn: Sách 80 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2026

(Nxb Thông tấn 2025)

🔶 Quốc hội khóa X được bầu ngày 20/7/1997, tỷ lệ cử tri bỏ phiếu là 99,59%, tổng số đại biểu được bầu là 450 người đại diện cho các tầng lớp Nhân dân.

🔶 Đại biểu nữ chiếm tỷ lệ 26,2%, đại biểu trẻ dưới 40 tuổi chiếm 18,6%, đại biểu không phải là đảng viên chiếm 15%...

🔶 Thành công của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa X thể hiện tinh thần yêu nước, sự gắn bó và niềm tin của các tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

DẤU ẤN NHIỆM KỲ

Kế thừa và phát huy những thành tựu, kinh nghiệm của Quốc hội các khóa trước, Quốc hội khóa X đã tiếp tục đổi mới mọi mặt hoạt động, thu được những kết quả và những tiến bộ đáng trân trọng, nhất là trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là công tác lập pháp, hoạt động giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và hoạt động đối ngoại, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng về nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

🔶 HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỰC TIỄN

Trong nhiệm kỳ 5 năm, Quốc hội khóa X tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp. Tại Kỳ họp thứ mười, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992.

Trong cả nhiệm kỳ, Quốc hội khóa X đã thông qua 35 luật và bộ luật, 44 pháp lệnh, 29 nghị quyết tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy nhà nước, đổi mới hệ thống chính trị, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

🔶 HOÀN THÀNH THẮNG LỢI KẾ HOẠCH 5 NĂM 1996 - 2000

Thực hiện kế hoạch 5 năm 1996-2000 được Quốc hội thông qua, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân 7%/năm; nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,6%/năm; công nghiệp tăng 13,5%/năm; giá trị các ngành dịch vụ tăng 6,8%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực.

Năm 2000, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 150 nước và vùng lãnh thổ. Kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 6 lần so với năm 1991, nhanh gấp 3 lần so với tốc độ tăng GDP. Tính chung 10 năm, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 67,3 tỷ USD, tăng 18,2%/năm. Gần 70 nước và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (PDI) đạt khoảng 15 tỷ USD. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được đưa vào thực hiện đạt trên 6 tỷ USD.

🔶 QUYẾT ĐỊNH NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG CỦA ĐẤT NƯỚC

Quốc hội khóa X chú trọng và chủ động trong việc xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, tạo cơ sở cho việc quản lý, điều hành phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định chính trị; quyết định các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; các chương trình mục tiêu quốc gia; tổ chức bộ máy và nhân sự cơ quan nhà nước, phê chuẩn các hiệp ước quốc tế; các vấn đề về an ninh, quốc phòng...

Quốc hội khóa X đã thận trọng xem xét và quyết định thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy Thủy điện Sơn La tại Kỳ họp thứ chín (6/2001). Đây là một công trình lớn và phức tạp nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất phục vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ mới.

🔶 TĂNG CƯỜNG VIỆC THỰC HIỆN GIÁM SÁT TRÊN CÁC LĨNH VỰC KINH TẾ - XÃ HỘI

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa X, hoạt động giám sát tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Quốc hội đã chú trọng giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật trên các lĩnh vực then chốt như: kinh tế, tài chính, ngân sách, giáo dục, y tế, phòng chống tham nhũng và cải cách hành chính. Các phiên chất vấn tại kỳ họp Quốc hội diễn ra dân chủ, thẳng thắn, trở thành kênh giám sát hiệu quả, thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của đại biểu trước cử tri. Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa X đã từng bước được thể chế hóa, tạo nền tảng quan trọng cho việc nâng cao chất lượng quản lý, điều hành của Chính phủ và các cơ quan nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

🔶 ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI

Trong nhiệm kỳ 1997-2002, hoạt động đối ngoại của Quốc hội khóa X được triển khai chủ động trên nhiều địa bàn nhằm củng cố và phát triển quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng và trong khu vực Nam Á. Đồng thời, Quốc hội khóa X cũng tăng cường hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả đối ngoại trên các diễn đàn nghị viện đa phương, như: Liên minh Nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á (AIPO), Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU), Liên minh Nghị viện Cộng đồng Pháp ngữ (APF)...

CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT

🔶 Kỳ họp thứ nhất họp từ ngày 18 đến 29/9/1997, tại Hà Nội

- Quốc hội đã bầu:

+ Chủ tịch nước: Trần Ðức Lương

+ Phó Chủ tịch nước: Nguyễn Thị Bình

+ Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 14 thành viên

+ Chủ tịch Quốc hội: Nông Ðức Mạnh (đến tháng 6/2001), Nguyễn Văn An (từ tháng 6/2001)

+ Thủ tướng: Phan Văn Khải

+ Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao: Trịnh Hồng Dương

+ Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Hà Mạnh Trí

+ Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội: Ủy ban Pháp luật; Ủy ban Kinh tế và Ngân sách; Ủy ban Quốc phòng và An ninh; Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; Ủy ban Các vấn đề xã hội; Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Ủy ban Ðối ngoại.

+ Trưởng đoàn Thư ký: Vũ Mão

🔶 Kỳ họp thứ 7 (từ ngày 9/5 đến 9/6/2000): Quốc hội phê chuẩn Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

🔶 Kỳ họp thứ 9 (từ ngày 22/5 đến 19/6/2001): Quốc hội bầu ông Nguyễn Văn An giữ chức Chủ tịch Quốc hội

Quốc hội khóa X kéo dài 5 năm (1997-2002) với 11 kỳ họp.

CÁC LUẬT ĐƯỢC QUỐC HỘI KHÓA X THÔNG QUA

  • 🔶 7/1/2002:
    Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • 🔶 26/12/1997:
    + Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
    + Luật Các tổ chức tín dụng
  • 🔶 1/6/1998:
    + Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi)
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
    + Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân sách Nhà nước
    + Luật Quốc tịch Việt Nam
    + Luật Tài nguyên nước
  • 🔶 11/12/1998:
    + Luật Khiếu nại, tố cáo
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ðất đai
    + Luật Giáo dục
  • 🔶 26/6/1999:
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí
    + Luật Doanh nghiệp
    + Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
  • 🔶 4/1/2000:
    + Bộ luật Hình sự
    + Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất
  • 🔶 9/6/2000:
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự
  • 🔶 22/6/2000:
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ðầu tư nước ngoài tại Việt Nam
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí
  • 🔶 22/12/2000:
    + Luật Phòng, chống ma túy
    + Luật Kinh doanh bảo hiểm
  • 🔶 12/7/2001:
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ðất đai
    + Luật Giao thông đường bộ
    + Luật Phòng cháy, chữa cháy
    + Luật Di sản văn hóa
    + Luật Hải quan
  • 🔶 7/1/2002:
    + Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi) (thông qua ngày 18/12/2001)
    + Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi) (thông qua ngày 24/12/2001)
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội
    + Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân (sửa đổi) (thông qua ngày 25/3/2002)
  • 🔶 9/3/1998:
    + Pháp lệnh Cán bộ, công chức
    + Pháp lệnh Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
    + Pháp lệnh Chống tham nhũng
  • 🔶 7/4/1998:
    Pháp lệnh Lực lượng cảnh sát biển Việt Nam
  • 🔶 28/4/1998:
    Pháp lệnh Thuế tài nguyên (sửa đổi)
  • 🔶 8/8/1998:
    Pháp lệnh về Người tàn tật
  • 🔶 24/8/1998:
    Pháp lệnh về Ký kết và thực hiện Ðiều ước quốc tế
  • 🔶 1/12/1998:
    Pháp lệnh sửa đổi Ðiều 21 của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng (ban hành ngày 28/2/2000)
  • 🔶 5/1/1999:
    + Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở
    + Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
  • 20/2/1999:
    Pháp lệnh Du lịch
  • 🔶 8/5/1999:
    + Pháp lệnh Phát hành công trái xây dựng Tổ quốc
    + Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
  • 🔶 6/7/1999:
    Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao
  • 🔶 16/9/1999:
    Pháp lệnh Nghĩa vụ lao động công ích
  • 🔶 18/10/1999:
    Pháp lệnh Ðo lường
  • 🔶 4/1/2000:
    + Pháp lệnh Thương phiếu
    + Pháp lệnh Chất lượng hàng hóa
  • 🔶 12/5/2000:
    + Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức
    + Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Chống tham nhũng
    + Pháp lệnh Người cao tuổi
    + Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam
  • 🔶 1/8/2000:
    Pháp lệnh sửa đổi Ðiều 18 của Pháp lệnh Tổ chức Toà án quân sự
  • 🔶 7/9/2000:
    + Pháp lệnh Ðê điều
    + Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Phòng, chống lụt, bão
  • 🔶 9/10/2000:
    Pháp lệnh Thể dục thể thao
  • 🔶 11/1/2001:
    + Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội
    + Pháp lệnh Bảo vệ bí mật Nhà nước
    + Pháp lệnh Thư viện
  • 🔶 15/4/2001:
    + Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi
    + Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia
  • 🔶 31/5/2001:
    Pháp lệnh Thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao
  • 🔶 8/8/2001:
    + Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật
    + Pháp lệnh Luật sư
  • 🔶 11/9/2001:
    Pháp lệnh Phí và lệ phí
  • 🔶 30/11/2001:
    + Pháp lệnh Quảng cáo
    + Các hiệp định, hiệp ước, công ước quốc tế được phê chuẩn
  • 🔶 9/6/2000:
    Thông qua Nghị quyết số 36/2000/QH10 về việc phê chuẩn "Hiệp ước biên giới đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa"
  • 🔶 4/12/2001:
    Ban hành Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại.
af6ce91e0d75832bda64.jpg
Nguồn: Sách 80 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2026
(Nxb Thông tấn 2025)

🔶 Ngày 19/5/2002, gần 50 triệu cử tri cả nước đã hăng hái đi bỏ phiếu, bầu 498 đại biểu Quốc hội khóa XI, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu đạt 99,73%. 

🔶 Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI đã thành công tốt đẹp, bảo đảm dân chủ, đúng pháp luật, an toàn và tiết kiệm. Thành công của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI đã thể hiện ý thức chính trị, trách nhiệm công dân, trình độ dân trí, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

DẤU ẤN NHIỆM KỲ

Quốc hội khóa XI (2002-2007) hoạt động trong bối cảnh bên cạnh những kết quả cơ bản do thành tựu đổi mới mang lại, đất nước cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn. Quốc hội tiếp tục thể chế hóa Cương lĩnh, Chiến lược của Đảng; cụ thể hóa đường lối, chính sách do Đại hội VIII (1996) và Đại hội IX (2001) của Đảng đề ra, đưa đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hoạt động lập pháp có bước đột phá lớn, hoạt động giám sát của Quốc hội tiếp tục được đẩy mạnh, có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng, hiệu quả và hiệu lực được nâng lên, tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động đổi mới và phát triển đất nước.

Quốc hội đã xem xét, quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước, trong đó có quyết định phương án xây dựng công trình Thủy điện Sơn La, một công trình rất lớn, tác động trực tiếp đến công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đời sống của Nhân dân.

🔶 ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

Hoạt động lập pháp của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI có bước phát triển lớn, nhất là sau khi Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, với những đổi mới quan trọng về quy trình lập pháp, công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội đã có những chuyển biến tích cực. Quốc hội xem xét, thông qua 84 luật, bộ luật, 16 nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã xem xét và thông qua 35 pháp lệnh đánh dấu bước tiến mới của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và các cơ quan hữu quan trong công tác xây dựng pháp luật.

🔶 QUYẾT ĐỊNH NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG CỦA ĐẤT NƯỚC

Trong nhiệm kỳ khóa XI, Quốc hội đã quyết định các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm và hằng năm của đất nước; ngân sách nhà nước, nhân sự cấp cao của Nhà nước; chủ trương đầu tư các dự án, công trình quan trọng quốc gia...

Việc thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước đã đạt được một số kết quả nhất định, tạo cơ sở cho việc quản lý, điều hành kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010.

🔶 GIÁM SÁT TRÊN CÁC LĨNH VỰC KINH TẾ - XÃ HỘI

Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa XI được Ủy ban thường vụ Quốc hội tập trung chỉ đạo chặt chẽ. Các đoàn giám sát của Quốc hội đã dành phần lớn thời gian để đi khảo sát thực tế tại địa phương, các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp... để thu thập thông tin, xem xét những vấn đề bức xúc để kịp thời phối hợp với các cơ quan của Chính phủ bàn biện pháp khắc phục, giải quyết. Qua đó hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội ngày càng thiết thực, hiệu quả hơn.

🔶 HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI CHUYÊN TRÁCH

Theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi-năm 2001), tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách ít nhất là 25% tổng số đại biểu Quốc hội.

Việc tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách là nhằm tăng tính chuyên nghiệp, hiệu quả trong hoạt động của Quốc hội.

🔶 ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI

Theo Quy chế hoạt động được thông qua tại Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XI, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp nhận và tổng hợp ý kiến của cử tri do đại biểu Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận gửi đến, để báo cáo với Quốc hội.

🔶 TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG SONG PHƯƠNG VÀ ĐA PHƯƠNG

Hoạt động đối ngoại song phương của Quốc hội khóa XI tập trung củng cố phát triển quan hệ với nghị viện các nước trong khu vực Đông Nam Á, Đông Bắc Á, đẩy mạnh quan hệ với Hoa Kỳ, Nghị viện châu Âu và Nghị viện nhiều nước thuộc Liên minh châu Âu. Quan hệ truyền thống với nghị viện các nước Trung và Đông Âu cũng được củng cố và đẩy mạnh bên cạnh việc phát triển quan hệ với nghị viện các nước khu vực châu Phi và Trung, Nam Mỹ.

Về quan hệ đa phương, Quốc hội khóa XI đã đóng góp tích cực vào hoạt động của các diễn đàn liên nghị viện mà Quốc hội Việt Nam là thành viên, chủ động đề xuất các sáng kiến, đưa ra các khuyến nghị nhằm thúc đẩy sự hợp tác có hiệu quả. Quốc hội Việt Nam khóa XI đăng cai tổ chức nhiều hội nghị quan trọng.

CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT

🔶 Kỳ họp thứ nhất từ ngày 19/7 đến ngày 12/8/2002, tại Hà Nội, Quốc hội đã bầu:

- Chủ tịch nước: Trần Ðức Lương

- Phó Chủ tịch nước: Trương Thị Mỹ Hoa

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 13 thành viên

- Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Văn An; (Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Phú Trọng, được Quốc hội bầu ngày 26/6/2006 tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI)

- Thủ tướng Chính phủ: Phan Văn Khải

- Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Nguyễn Văn Hiện

- Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Hà Mạnh Trí

- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội: Ủy ban Pháp luật; Ủy ban Kinh tế và Ngân sách; Ủy ban Quốc phòng và An ninh; Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; Ủy ban Các vấn đề xã hội; Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Ủy ban Ðối ngoại.

- Ðoàn Thư ký kỳ họp Quốc hội gồm 11 người; Trưởng đoàn thư ký: Bùi Ngọc Thanh

🔶 Ngày 17/3/2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ra Nghị quyết thành lập 3 cơ quan chuyên môn là Ban Công tác lập pháp, Ban Công tác đại biểu và Ban Dân nguyện trực thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội.

🔶 Tại kỳ họp thứ 11, kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa XI (từ ngày 20/03 đến ngày 02/04 năm 2007), Quốc hội đã xem xét, thảo luận và thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Quốc hội nhằm tạo điều kiện để Quốc hội khóa XII tiếp tục đổi mới về tổ chức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Theo đó, Quốc hội đã nhất trí về việc thành lập mới Ủy ban pháp luật và Ủy ban tư pháp của Quốc hội trên cơ sở Ủy ban pháp luật; thành lập mới Ủy ban kinh tế và Ủy ban tài chính của Quốc hội trên cơ sở Ủy ban kinh tế và ngân sách hiện nay.

CÁC LUẬT ĐƯỢC QUỐC HỘI KHÓA XI THÔNG QUA

· 🔶 16/12/2002:
+ Luật ngân sách nhà nước
+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

· 🔶 17/6/2003:
+ Luật kế toán
+ Luật thống kê
+ Luật hoạt động giám sát của Quốc hội
+ Luật biên giới quốc gia
+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng
+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
+ Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước

· 🔶 26/11/2003:
+ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
+ Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
+ Luật đất đai
+ Luật doanh nghiệp nhà nước
+ Luật thi đua khen thưởng
+ Luật xây dựng
+ Luật thủy sản
+ Luật hợp tác xã
+ Bộ luật tố tụng hình sự

· 🔶 15/6/2004:
+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng
+ Luật phá sản
+ Luật thanh tra
+ Luật giao thông đường thủy nội địa
+ Bộ luật tố tụng dân sự
+ Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo

· 🔶 3/12/2004:
+ Luật cạnh tranh
+ Luật điện lực
+ Luật bảo vệ và phát triển rừng
+ Luật xuất bản
+ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
+ Luật an ninh quốc gia

· 🔶 14/6/2005:
+ Bộ luật dân sự
+ Luật dược
+ Luật đường sắt
+ Luật thương mại
+ Luật kiểm toán nhà nước
+ Luật giáo dục (sửa đổi)
+ Luật quốc phòng
+ Bộ luật hàng hải Việt Nam (sửa đổi)
+ Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế
+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan
+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự
+ Luật du lịch
+ Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng sản
+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng

· 🔶 29/11/2005:
+ Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
+ Luật Các công cụ chuyển nhượng
+ Luật Sở hữu trí tuệ
+ Luật Giao dịch điện tử
+ Luật Bảo vệ môi trường
+ Luật Thanh niên
+ Luật Công an nhân dân
+ Luật Phòng, chống tham nhũng
+ Luật Nhà ở
+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thuế giá trị gia tăng
+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo
+ Luật Đầu tư
+ Luật Doanh nghiệp
+ Luật Đấu thầu

· 🔶 29/6/2006:
+ Luật Điện ảnh
+ Luật Kinh doanh bất động sản
+ Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)
+ Luật Luật sư
+ Luật Hàng không dân dụng Việt Nam
+ Luật Công nghệ thông tin
+ Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật
+ Luật Trợ giúp pháp lý
+ Luật Chứng khoán
+ Luật Bảo hiểm xã hội 

· 🔶 29/11/2006:
+ Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
+ Luật Bình đẳng giới
+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động
+ Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác
+ Luật Dạy nghề
+ Luật Thể dục thể thao
+ Luật Quản lý thuế
+ Luật Đê điều
+ Luật Chuyển giao công nghệ
+ Luật Cư trú
+ Luật Công chứng

· 🔶 2/4/20007:
+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội
+ Luật sửa đổi, bổ sung điều 73 của Bộ luật Lao động

· 🔶 Các Pháp lệnh được Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua:

· 🔶 1/1/2003:
Pháp lệnh sửa đổi Điều 22 và Điều 23 của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng

· 🔶 11/10/2002:
+ Pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm Tòa án nhân dân
+ Pháp lệnh kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân

· 🔶 15/11/2002:
+ Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự
+ Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự

· 🔶 1/5/2003:
Pháp lệnh dân số

· 🔶 1/6/2003:
Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân

· 🔶 1/7/2003:
+ Pháp lệnh trọng tài thương mại
+ Pháp lệnh động viên công nghiệp
+ Pháp lệnh phòng chống mại dâm
+ Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức

· 🔶 1/11/2003:
Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm

· 🔶 1/7/2004:
+ Pháp lệnh thi hành án dân sự
+ Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
+ Pháp lệnh giống cây trồng
+ Pháp lệnh giống vật nuôi

· 🔶 1/9/2004:
Pháp lệnh dự trữ quốc gia

· 🔶 1/10/2004:
Pháp lệnh thú y

· 🔶 1/1/2005:
Pháp lệnh dân quân tự vệ

· 🔶 1/10/2004:
Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam

· 🔶 15/11/2004:
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo

· 🔶 1/1/2005:
Pháp lệnh chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam

· 🔶 30/8/2004:
Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự

· 🔶 1/1/2005:
Pháp lệnh giám định tư pháp

· 🔶 1/10/2005:
+ Pháp lệnh cảnh vệ
+ Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng

· 🔶 1/1/2006:
Pháp lệnh Cựu chiến binh

· 🔶 1/6/2006:
+ Pháp lệnh Ngoại hối
+ Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính

· 🔶 1/1/2007:
Pháp lệnh sửa Đổi điều 9 của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự

· 🔶 21/3/2007:
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính

· 🔶 18/4/2007:
Pháp lệnh bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia

· 🔶 19/4/2007:
+ Pháp lệnh ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế
+ Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.

· 🔶 Các hiệp định, hiệp ước, công ước quốc tế đã phê chuẩn:

· 🔶 Nghị quyết số 28/2004/QH11 về việc phê chuẩn "Hiệp định giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc Bộ". Ngày ban hành: 24/06/2004.

· 🔶 Nghị quyết số 71/2006/NQ-QH11 phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày ban hành: 29/11/2006.


🔶 Nghị quyết số 52/2005/QH11 về việc phê chuẩn “Hiệp ước giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương Quốc Campuchia bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985” (thông qua ngày 29/11/2005)

ba12dd1e3975b72bee64.jpg
Nguồn: Sách 80 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2026
(Nxb Thông tấn 2025)

🔶Ngày 20/5/2007, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII diễn ra trong không khí phấn khởi và tin tưởng. Cử tri đã bầu 493 đại biểu trong tổng số 876 ứng cử viên. 

🔶Thắng lợi của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII có ý nghĩa to lớn khẳng định quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân và là hiện thân của khối đại đoàn kết dân tộc.

DẤU ẤN NHIỆM KỲ

Quốc hội khóa XII hoạt động trong bối cảnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đi được chặng đường hơn 20 năm, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử cả lý luận và thực tiễn, tạo nền tảng để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Quốc hội khóa XII tiếp tục đổi mới hoạt động theo hướng ngày càng dân chủ, thực chất và hiệu quả hơn, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo tiền đề đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

🔶 TIẾP TỤC ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP

Quốc hội khóa XII hoạt động sôi nổi, ngày càng phát huy dân chủ, thiết thực và hiệu quả, có những đổi mới trong cả tư duy và hành động thực tiễn. Quốc hội có bước đổi mới quan trọng, từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động, tăng cường đại biểu chuyên trách; thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Với sự phấn đấu nỗ lực, không ngừng đổi mới, trong 4 năm, Quốc hội khóa XII đã thông qua 67 luật, 13 nghị quyết; Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua 14 pháp lệnh và 11 nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật. Các văn bản pháp luật được ban hành bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý và điều hành kinh tế-xã hội của đất nước.

🔶 QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG CỦA ĐẤT NƯỚC

Trong nhiệm kỳ khóa XII, Quốc hội đã quyết định 32 vấn đề quan trọng, đặc biệt là các quyết định về kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước và công trình dự án quốc gia; quyết định về bộ máy nhà nước và nhân sự cấp cao trong bộ máy; quyết định rút ngắn một năm nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII; quyết định về chủ trương đầu tư các dự án Nhà máy Thủy điện Lai Châu, Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận; quyết định giảm, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp cho nông dân, điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan.

Ngày 29/5/2008, Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 15/2008/QH12 về việc điều chỉnh địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội và một số tỉnh liên quan. Theo Nghị quyết này, không gian mở rộng của thành phố Hà Nội mới bao gồm: Hà Nội, toàn bộ diện tích tự nhiên của tỉnh Hà Tây (sau khi tách xã Tân Đức, huyện Ba Vì về tỉnh Phú Thọ), huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình và Yên Trung thuộc huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình). Với việc điều chỉnh này, thành phố Hà Nội mở rộng có tổng diện tích tự nhiên gần 3.358,6 km² và trên 6,2 triệu nhân khẩu, so với diện tích khi chưa mở rộng là trên 920 km² và xấp xỉ 3,5 triệu nhân khẩu. Sau khi mở rộng, thành phố Hà Nội có 12 quận, 17 huyện, 577 phường, xã, thị trấn.

🔶 TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT VÀ CHẤT VẤN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Quốc hội khóa XII đã xem xét 159 báo cáo các loại (báo cáo của Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, các bộ, ngành...); đã giám sát 7 chuyên đề, trong đó có chuyên đề “nóng” như: việc thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước ở các bộ, ngành, địa phương từ năm 2005 đến năm 2007; những chuyên đề vừa mang tính cấp bách vừa mang tính lâu dài như: việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm; việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực liên quan trực tiếp đến công dân và doanh nghiệp theo chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010...

🔶 MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI

Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới (1986-2006), nhiệm vụ trọng tâm và là điểm mới trong chính sách đối ngoại của Việt Nam là “đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững”, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020.

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII, Quốc hội Việt Nam đảm nhiệm chức Chủ tịch Liên minh Nghị viện các nước Đông Nam Á (AIPA) và tổ chức thành công Đại hội đồng AIPA 31 tại Hà Nội từ ngày 20 đến ngày 24/9/2010. Việt Nam trở thành tâm điểm gắn kết để các nước ASEAN vượt qua những khó khăn, thử thách, đồng thời nâng vị thế của các nước ASEAN trên trường quốc tế.

CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT

🔶 Kỳ họp thứ nhất họp từ ngày 19/7 đến ngày 4/8/2007, Quốc hội đã bầu:

- Chủ tịch nước: Nguyễn Minh Triết

- Phó Chủ tịch nước: Nguyễn Thị Doan

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 18 thành viên

- Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Phú Trọng, được Quốc hội bầu ngày 23/7/2007

- Thủ tướng Chính phủ: Nguyễn Tấn Dũng

- Chánh án Toà án nhân dân tối cao: Trương Hòa Bình (bị kỷ luật bằng hình thức Cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng từ 10/4/2025)

- Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Trần Quốc Vượng

- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội: Ủy ban Pháp luật; Ủy ban Tư pháp; Ủy ban Kinh tế; Ủy ban Tài chính, Ngân sách; Ủy ban Quốc phòng và An ninh; Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; Ủy ban Các vấn đề xã hội; Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Ủy ban Ðối ngoại

- Ðoàn Thư ký kỳ họp Quốc hội gồm 13 người; Trưởng đoàn thư ký: Trần Đình Đàn

- Các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Ban Công tác đại biểu; Ban Dân nguyện; Viện Nghiên cứu lập pháp

- Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc rút ngắn một năm nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (2007-2011)

🔶 Kỳ họp thứ 3 họp từ 6/5 đến 3/6/2008, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh liên quan, theo đó, từ sau 1/8/2008, cả nước có 63 đơn vị hành chính bao gồm 5 thành phố trực thuộc Trung ương và 58 tỉnh.

🔶 Kỳ họp thứ 6 họp từ 24/10 đến 27/11/2009: Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án thủy điện Lai Châu. Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.

CÁC LUẬT ĐƯỢC QUỐC HỘI KHÓA XII THÔNG QUA

🔶 4/8/2007:

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng

🔶 3/6/2008:

+ Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật dầu khí

+ Luật hoạt động chữ thập đỏ

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xuất bản

+ Luật thuế giá trị gia tăng

+ Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

+ Luật trưng mua, trưng dụng tài sản

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống ma túy

+ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

+ Luật năng lượng nguyên tử

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam

🔶 13/11/2008:

+ Luật đa dạng sinh học

+ Luật công nghệ cao

+ Luật cán bộ, công chức

+ Luật giao thông đường bộ

+ Luật quốc tịch Việt Nam

+ Luật bảo hiểm y tế

+ Luật thi hành án dân sự

+ Luật thuế tiêu thụ đặc biệt

🔶 17/6/2009:

+ Luật lý lịch tư pháp

+ Luật quản lý nợ công

+ Luật quy hoạch đô thị

🔶 18/6/2009:

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật điện ảnh

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa

+ Luật cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài

+ Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai

+ Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

🔶 19/6/2009:

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản

🔶 23/11/2009:

+ Luật người cao tuổi

+ Luật khám bệnh, chữa bệnh

+ Luật viễn thông

+ Luật tần số vô tuyến điện

+ Luật dân quân tự vệ

🔶 25/11/2009:

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục

+ Luật thuế tài nguyên

🔶 16/6/2010:

+ Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam

+ Luật các tổ chức tín dụng

🔶 17/6/2010:

+ Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

+ Luật bưu chính

+ Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

+ Luật người khuyết tật

+ Luật nuôi con nuôi

+ Luật thi hành án hình sự

+ Luật trọng tài thương mại

+ Luật an toàn thực phẩm

🔶 15/11/2010:

+ Luật thanh tra

+ Luật thuế bảo vệ môi trường

+ Luật viên chức

🔶 17/11/2010:

+ Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

+ Luật khoáng sản

🔶 24/11/2010:

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

+ Luật tố tụng hành chính

🔶29/3/2011:

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự

+ Luật phòng, chống mua bán người

+ Luật kiểm toán độc lập

Các Pháp lệnh được Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XII thông qua:

🔶 19/10/2007:

Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thi hành án phạt tù

🔶 26/1/2008:

+ Pháp lệnh công nghiệp quốc phòng

+ Pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển Việt Nam

🔶 2/4/2008:

Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính

🔶 27/8/2008:

Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển

🔶 21/11/2008:

Pháp lệnh công an xã

🔶 22/11/2008:

Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh thuế tài nguyên

🔶 27/12/2008:

Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 Pháp lệnh dân số

🔶 27/2/2009:

+ Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự

+ Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án

🔶 16/3/2010:

Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu bay

🔶 19/2/2011:

+ Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân

+ Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân

🔶 30/6/2011:

Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ

99c5fce0188b96d5cf9a.jpg
Nguồn: Sách 80 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2026
(Nxb Thông tấn 2025)

🔶 Ngày 22/5/2011, cử tri cả nước thực hiện quyền công dân, tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, một trong những sự kiện chính trị trọng đại của đất nước trong năm 2011. Đây là lần đầu tiên, người dân đi bầu đồng thời các cơ quan dân cử ở 4 cấp, gồm đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; cấp huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và cấp xã, phường, thị trấn trong cùng một ngày. Tỉ lệ cử tri bỏ phiếu đạt 99,51%. 500 đại biểu Quốc hội trúng cử.

🔶 Thắng lợi toàn diện và to lớn của cuộc bầu cử thể hiện tinh thần yêu nước, sự tin tưởng của Nhân dân vào đường lối đổi mới, vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân và tỉnh thần đoàn kết dân tộc.

DẤU ẤN NHIỆM KỲ

Đất nước bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân triển khai thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020 và mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011-2015 tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, nhiệm vụ nặng nề và trách nhiệm quan trọng của Quốc hội khóa XIII là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, được coi là một nhân tố quyết định bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong suốt nhiệm kỳ 5 năm với 11 phiên họp, Quốc hội khóa XIII đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trước Nhân dân, đất nước, đã xây dựng, thông qua bản Hiến pháp năm 2013, cùng với 101 luật, bộ luật, tạo khung khổ pháp lý vững chắc cho sự vận hành toàn bộ đời sống xã hội; từng bước xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, tạo ra khung pháp lý cho việc hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

🔶 XÂY DỰNG VÀ THÔNG QUA HIẾN PHÁP NĂM 2013

Thành tựu lớn nhất trong hoạt động lập hiến, lập pháp của Quốc hội trong nhiệm kỳ khóa XIII là việc Quốc hội đã thông qua bản sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Đây là bản Hiến pháp thể hiện tinh thần đổi mới sâu sắc, tạo ra khung khổ pháp lý vững chắc cho sự vận hành toàn bộ đời sống xã hội trên nên tảng dân chủ, pháp quyền và tạo ra động lực mạnh mẽ để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Hiến pháp năm 2013 cũng thể hiện rõ tinh thần để cao vai trò làm chủ của Nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân.

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ sáu ngày 28/11/2013, Chủ tịch nước công bố ngày 8/12/2013, có hiệu lực từ ngày 1/1/2014. Đây là bản Hiến pháp thể hiện quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân ta về công cuộc đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển bền vững trong thời kỳ mới.

🔶 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

Quốc hội khóa XIII đã tích cực thực hiện hoạt động lập pháp, thể chế hóa kịp thời và đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng, từng bước xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, tạo ra khung pháp lý cho việc hình thành và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong cả nhiệm kỳ, Quốc hội đã thông qua 108 luật, bộ luật. Riêng tại Kỳ họp thứ mười (20/10-27/11/2015), Quốc hội đã thông qua 16 luật, bộ luật.

🔶 QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG CỦA ĐẤT NƯỚC

Vào những năm đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, trong điều kiện ngân sách nhiều khó khăn, Quốc hội đã quyết định giảm các khoản chi tiêu chưa thực sự cần thiết và kém hiệu quả, bố trí vốn bảo đảm tỷ lệ chi cho các ngành, lĩnh vực quan trọng. Quốc hội đã thông qua nghị quyết nhằm tháo gỡ khó khăn về thuế cho doanh nghiệp, thảo luận đề án tái cơ cấu nền kinh tế, quyết định kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015, kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ và sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2012-2015.

🔶 NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT

Quốc hội khóa XIII đã có nhiều nỗ lực để nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động giám sát. Việc tiến hành các phiên chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội được đổi mới theo hướng dân chủ, công khai, có trách nhiệm, tranh luận và đối thoại. Lần đầu tiên trong lịch sử hoạt động, Quốc hội đã tiến hành lấy phiếu đánh giá tín nhiệm đối với người giữ các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Quy trình lấy phiếu tín nhiệm được tiến hành dân chủ, công khai, minh bạch để cử tri cả nước theo dõi và giám sát.

🔶 MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI, TẠO DỰNG MÔI TRƯỜNG QUỐC TẾ THUẬN LỢI ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Quốc hội khóa XIII hoạt động trong bối cảnh có nhiều thuận lợi và thách thức đan xen, tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ đến công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Hoạt động đối ngoại Quốc hội khóa XIII tập trung mở rộng quan hệ quốc tế và hợp tác nghị viện, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế, quảng bá hình ảnh và nâng cao vị thế của Việt Nam, góp phần vào thành công chung trong việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

🔶 NHÀ QUỐC HỘI MỚI

Nhà Quốc hội được khởi công xây dựng ngày 12/10/2009 tại khu vực Hội trường Ba Đình trước đây, phía trước Quảng trường Ba Đình, trong khu vực Hoàng thành Thăng Long xưa. Công trình Nhà Quốc hội có kiến trúc hình vuông, với phòng họp hình tròn ở giữa, gồm 2 tầng hầm và 5 tầng nổi, tổng diện tích sàn hơn 62.000m², tích hợp các giải pháp ứng dụng công nghệ, thiết bị tiên tiến. Nhà Quốc hội là nơi tổ chức các kỳ họp Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tổ chức những lễ kỷ niệm trọng đại của đất nước và là nơi đón tiếp khách quốc tế cấp cao của Đảng, Nhà nước.

CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT

🔶 Kỳ họp thứ nhất họp từ ngày 21/7 đến ngày 6/8/2011, tại Hà Nội, Quốc hội đã bầu:

- Chủ tịch nước: Trương Tấn Sang

- Phó Chủ tịch nước: Nguyễn Thị Doan

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 18 thành viên

- Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Sinh Hùng

- Thủ tướng Chính phủ: Nguyễn Tấn Dũng

- Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Trương Hòa Bình (bị kỷ luật bằng hình thức Cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng từ 10/4/2025)

- Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Nguyễn Hòa Bình

- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội: Ủy ban Pháp luật; Ủy ban Tư pháp; Ủy ban Kinh tế; Ủy ban Tài chính, Ngân sách; Ủy ban Quốc phòng và An ninh; Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; Ủy ban Các vấn đề xã hội; Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Ủy ban Ðối ngoại

- Ðoàn Thư ký kỳ họp Quốc hội gồm 13 người; Trưởng đoàn thư ký: Nguyễn Hạnh Phúc

- Các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội: Ban Công tác đại biểu; Ban Dân nguyện; Viện Nghiên cứu lập pháp

🔶 Kỳ họp thứ 6 họp từ 21/10 đến 29/11/2013, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 2013

🔶 Kỳ họp thứ 9 họp từ 20/5 đến 26/6/2015, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành

Quốc hội khóa XIII kéo dài 5 năm (2011-2016) với 11 kỳ họp.

CÁC LUẬT ĐƯỢC QUỐC HỘI KHÓA XIII THÔNG QUA

  • 🔶 11/11/2011:
    + Luật lưu trữ
    + Luật khiếu nại
    + Luật tố cáo
    + Luật đo lường
  • 🔶 26/11/2011:
    Luật cơ yếu
  • 🔶 18/6/2012:
    + Luật bảo hiểm tiền gửi
    + Luật phòng, chống rửa tiền
    + Luật giáo dục đại học
    + Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá
    + Bộ luật lao động
  • 🔶 20/6/2012:
    + Luật giá
    + Luật công đoàn
    + Luật giám định tư pháp
    + Luật phổ biến, giáo dục pháp luật
    + Luật xử lý vi phạm hành chính
  • 🔶 21/6/2012:
    + Luật quảng cáo
    + Luật tài nguyên nước
    + Luật biển Việt Nam
  • 🔶 20/11/2012:
    + Luật xuất bản
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật luật sư
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế
    + Luật dự trữ quốc gia
    + Luật hợp tác xã
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật điện lực
  • 🔶 21/11/2012:
    Luật thủ đô
  • 🔶 22/11/2012:
    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân
  • 🔶 23/11/2012:
    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng
  • 🔶 12/6/2013:
    Luật phòng, chống khủng bố
  • 🔶 18/6/2013:
    Luật khoa học và công nghệ
  • 🔶 19/6/2013:
    + Luật giáo dục quốc phòng và an ninh
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
    + Luật phòng, chống thiên tai
  • 🔶 20/6/2013:
    + Luật hòa giải ở cơ sở
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cư trú
    + Luật sửa đổi, bổ sung Điều 170 của Luật doanh nghiệp
  • 🔶 16/11/2013:
    + Luật việc làm
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng
  • 🔶 22/11/2013:
    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy
  • 🔶 25/11/2013:
    + Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật
    + Luật tiếp công dân
    + Luật đấu thầu
    + Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
    + Luật đất đai
    + Hiến pháp
  • 🔶 13/6/2014:
    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế
  • 🔶 16/6/2014:
    Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam
  • 🔶 17/6/2014:
    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giao thông đường thủy nội địa
  • 🔶 18/6/2014:
    + Luật đầu tư công
    + Luật xây dựng
  • 🔶 19/6/2014:
    + Luật phá sản
    + Luật hôn nhân và gia đình
  • 🔶 20/6/2014:
    Luật công chứng
  • 🔶 23/6/2014:
    + Luật hải quan
    + Luật bảo vệ môi trường
  • 🔶 24/6/2014:
    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam
  • 🔶 20/11/2014:
    + Luật tổ chức Quốc hội
    + Luật bảo hiểm xã hội
    + Luật căn cước công dân
    + Luật hộ tịch
  • 🔶 21/11/2014:
    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hàng không dân dụng Việt Nam
  • 🔶 24/11/2014:
    + Luật tổ chức Tòa án nhân dân
    + Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
  • 🔶 25/11/2014:
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự
    + Luật nhà ở
    + Luật kinh doanh bất động sản
  • 🔶 26/11/2014:
    + Luật đầu tư
    + Luật doanh nghiệp
    + Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế
  • 🔶 27/11/2014:
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam
    + Luật Công an nhân dân
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật dạy nghề
  • 🔶 9/6/2015:
    Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
  • 🔶 19/6/2015:
    + Luật tổ chức Chính phủ
    + Luật tổ chức chính quyền địa phương
    + Luật nghĩa vụ quân sự
    + Luật thú y
  • 🔶 22/6/2015:
    Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
  • 🔶 24/6/2015:
    Luật Kiểm toán nhà nước
  • 🔶 25/6/2015:
    + Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
    + Luật ngân sách nhà nước
    + Luật an toàn, vệ sinh lao động
    + Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
  • 🔶 19/11/2015:
    Luật an toàn thông tin mạng
  • 🔶 20/11/2015:
    + Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân
    + Luật kế toán
  • 🔶 23/11/2015:
    + Luật thống kê
    + Luật khí tượng thủy văn

  • 🔶 24/11/2015:
  • Bộ luật dân sự
  • 🔶 25/11/2015:
    + Bộ luật tố tụng dân sự
    + Luật tố tụng hành chính
    + Luật thi hành tạm giữ, tạm giam
    + Bộ luật hàng hải
    + Luật trưng cầu ý dân
    + Luật phí, lệ phí
  • 🔶 26/11/2015:
    + Luật quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng
    + Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự
  • 🔶 27/11/2015:
    + Bộ luật hình sự
    + Bộ luật tố tụng hình sự
  • 10 Pháp lệnh đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua :
  • 🔶 22/3/2012:
    Pháp lệnh hợp nhất văn bản QPPL
  • 🔶 28/3/2012:
    Pháp lệnh chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng
  • 🔶 16/4/2012:
    Pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật
  • 🔶 16/7/2012:
    Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng
  • 🔶 20/10/2012:
    Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”
  • 🔶 18/3/2013:
    Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối
  • 🔶 12/7/2013:
    Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
  • 🔶 23/12/2013:
    Pháp lệnh cảnh sát cơ động
  • 🔶 20/01/2014:
    Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân
  • 🔶 23/12/2014:
    Pháp lệnh cảnh sát môi trường.
xiv.jpg
Nguồn: Sách 80 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2026
(Nxb Thông tấn 2025)

🔶 Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 diễn ra vào ngày 22/5/2016, là sự kiện chính trị trọng đại, thu hút hơn 67 triệu cử tri cả nước tham gia, đạt tỷ lệ đi bầu 99,35%.

Với tinh thần dân chủ, đoàn kết và trách nhiệm, Nhân dân đã sáng suốt lựa chọn 494 đại biểu tiêu biểu về phẩm chất, năng lực và uy tín. Thành công của cuộc bầu cử tiếp tục khẳng định niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.

DẤU ẤN NHIỆM KỲ

Quốc hội khóa XIV (2016-2021) là nhiệm kỳ thể hiện rõ tinh thần đổi mới mạnh mẽ, hành động và trách nhiệm cao trước Nhân dân. Trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến động phức tạp, Quốc hội khóa XIV đã ban hành nhiều luật quan trọng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, như Luật An ninh mạng, Luật Đầu tư công (sửa đổi), Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi)... Bên cạnh đó, công tác giám sát tối cao được tăng cường, với nhiều nội dung bám sát thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Một điểm nổi bật của nhiệm kỳ là tinh thần nói đi đôi với làm, thể hiện rõ qua các phiên chất vấn sôi nổi, đổi mới, mang tính tranh luận cao. Quốc hội khóa XIV cũng là nhiệm kỳ đầu tiên tổ chức thí điểm chất vấn và trả lời chất vấn tại hội trường theo nhóm vấn đề và theo tinh thần đối thoại. Những đổi mới đó đã góp phần nâng cao vị thế, vai trò của Quốc hội trong hệ thống chính trị và trong lòng cử tri cả nước.

Với sự tín nhiệm rất cao, Quốc hội đã bầu Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2016-2021 tại Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XIV (23/10/2018).

🔶 TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

Trong nhiệm kỳ khóa XIV, Quốc hội đã thông qua 73 luật, 135 nghị quyết; Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 2 pháp lệnh và nhiều nghị quyết, kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng; tiếp tục cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý Nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập của đất nước. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã hiện thực hóa những đổi mới về quy trình xây dựng luật, pháp lệnh được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện quy trình xây dựng luật, pháp lệnh.

🔶 QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG CỦA ĐẤT NƯỚC

Trong nhiệm kỳ khóa XIV, Quốc hội đã xem xét, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, có tác động, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế-xã hội, gần với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quốc hội đã quyết định kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hằng năm, kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020.

Đặc biệt, kế hoạch đầu tư công trung hạn và kế hoạch tài chính 5 năm 2016-2020 lần đầu tiên được thông qua, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất cả trong ngắn hạn và trung hạn đối với lĩnh vực tài chính, ngân sách, hướng tới việc huy động và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, bảo đảm an toàn nợ công, tính bến vững của ngân sách; quyết định chủ trương đầu tư một số dự án, công trình quan trọng quốc gia; phê duyệt Đề án tổng thể và chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.

🔶 TĂNG CƯỜNG GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN CÁC NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI

Trong nhiệm kỳ khóa XIV, hoạt động giám sát của Quốc hội tiếp tục được tăng cường có sự đổi mới. Trong đó, việc xem xét báo cáo của các cơ quan được thảo luận kỹ lưỡng, công khai, minh bạch, có tính xây dựng, góp phần bảo đảm tổ chức và thực hiện Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội đúng quy định. Hoạt động giám sát chuyên đề tiếp tục được cải tiến, chuyên nghiệp và đi vào chiều sâu. Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tiếp tục có nhiều đổi mới. Việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn được tiến hành nghiêm túc, thận trọng, khách quan, công tâm, đúng quy trình.

🔶 HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI PHONG PHÚ, ĐA DẠNG

Hoạt động đối ngoại của Quốc hội trong nhiệm kỳ khóa XIV ngày càng đa dạng, phong phú, được triển khai ở tất cả các cấp độ và thông qua nhiều hình thức, đặc biệt đối ngoại nghị viện, đóng góp vào thành công chung trong việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT

🔶 Kỳ họp thứ nhất họp từ ngày 20 đến 29/7/2016, tại Hà Nội

- Quốc hội đã bầu:

+ Chủ tịch nước: Trần Ðại Quang

+ Phó Chủ tịch nước: Đặng Thị Ngọc Thịnh

+ Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 13 thành viên

+ Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Thị Kim Ngân

+ Thủ tướng: Nguyễn Xuân Phúc (bị kỷ luật cách tất cả các chức vụ trong Đảng từ 19/7/2025)

+ Chánh án Toà án Nhân dân tối cao: Nguyễn Hòa Bình

+ Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Lê Minh Trí

+ Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội: Ủy ban Pháp luật; Ủy ban Quốc phòng và An ninh; Ủy ban Văn hoá, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; Ủy ban Các vấn đề xã hội; Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Ủy ban Ðối ngoại; Ủy ban Tư pháp; Ủy ban Kinh tế.

+ Tổng Thư ký: Nguyễn Hạnh Phúc

🔶 Kỳ họp thứ 2 (từ ngày 20/10 đến 23/11/2016): Quốc hội thông qua ba luật: Luật Tín ngưỡng, Luật Tôn Giáo và Luật Đấu giá tài sản

🔶 Kỳ họp thứ 5 (từ ngày 21/5 đến 15/6/2018): Quốc hội thông qua Luật Quốc phòng, Luật An ninh mạng, Luật Tố cáo, Luật Cạnh tranh; lùi thời điểm thông qua Dự án Luật Đặc khu

🔶 Kỳ họp thứ 6 (từ ngày 22/10 đến 20/11/2018) Quốc hội:

+ Bầu ông Nguyễn Phú Trọng làm Chủ tịch nước

+ Phê chuẩn ông Nguyễn Mạnh Hùng làm Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (Quốc hội miễn nhiễm chức vụ Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đối với ông Trương Minh Tuấn, 23/10/2018)

+ Thông qua: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương ( CPTPP)

🔶 Kỳ họp thứ 9 được tổ chức làm hai đợt (do đại dịch COVID-19)

- Đợt 1 diễn ra từ ngày 20/5 đến 29/5/2020. Trong đợt 1, Quốc hội họp trực tuyến qua cầu truyền hình từ Nhà Quốc hội đến 63 đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố

- Đợt 2 diễn ra từ ngày 8/6 đến 19/6/2020, Quốc hội họp tập trung tại Nhà Quốc hội, đã thông qua Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA).

🔶 Kỳ họp thứ 11 (từ ngày 24/3 đến 8/4/2021), Quốc hội đã tiến hành bỏ phiếu miễn nhiệm các chức danh Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và thành viên chính phủ.

- Quốc hội đã bầu:

+ Chủ tịch Quốc hội: Vương Đình Huệ (bị kỷ luật cách tất cả các chức vụ trong Đảng từ 19/7/2025)

+ Chủ tịch nước: Nguyễn Xuân Phúc (bị kỷ luật cách tất cả các chức vụ trong Đảng từ 19/7/2025)

+ Thủ tướng: Phạm Minh Chính

+ 3 Phó Chủ tịch Quốc hội: Trần Thanh Mẫn, Nguyễn Khắc Định, Nguyễn Đức Hải

+ Phó Chủ tịch nước: Võ Thị Ánh Xuân

+ 5 Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bùi Văn Cường (thôi giữ chức Ủy viên Trung ương Đảng khoá XIII từ 25/11/2024), Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Đắc Vinh, Vũ Hải Hà, Lê Quang Huy

+ Chủ nhiệm 3 Ủy ban của Quốc hội:

Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng: Nguyễn Đắc Vinh

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường: Lê Quang Huy

Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại: Vũ Hải Hà

+ Tổng Thư ký: Bùi Văn Cường (thôi giữ chức Ủy viên Trung ương Đảng khoá XIII từ 25/11/2024)

+ Tổng Kiểm toán nhà nước: Trần Sỹ Thanh

- Phê chuẩn việc bổ nhiệm:

+ 2 Phó Thủ tướng: Lê Minh Khái (bị kỷ luật cách tất cả các chức vụ trong Đảng từ 19/7/2025), Lê Văn Thành

+ 12 thành viên khác của Chính phủ:

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Phan Văn Giang

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Bùi Thanh Sơn

Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Phạm Thị Thanh Trà

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Lê Minh Hoan

Bộ trưởng Bộ Xây dựng: Nguyễn Thanh Nghị

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Nguyễn Văn Hùng

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ: Trần Văn Sơn

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc: Hầu A Lềnh

Bộ trưởng Bộ Tài chính: Hồ Đức Phớc

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo: Nguyễn Kim Sơn

Bộ trưởng Bộ Công Thương: Nguyễn Hồng Diên

Tổng Thanh tra Chính phủ: Đoàn Hồng Phong

Quốc hội khóa XIV kéo dài 5 năm (2016-2021) với 11 kỳ họp.

- Thông qua Nghị quyết thí điểm bố trí chức danh đại biểu hoạt động chuyên trách của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội.

CÁC LUẬT ĐƯỢC QUỐC HỘI KHÓA XIV THÔNG QUA

  • 72 luật và bộ luật được Quốc hội khóa XIV thông qua:
  • 🔶 17/11/2016:
    + Luật Đấu giá tài sản
    + Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
  • 🔶 22/11/2016:
    Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư
  • 🔶 12/6/2017:
    + Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
    + Luật Quản lý ngoại thương
    + Luật Đường sắt
  • 🔶 19/6/2017:
    + Luật Chuyển giao công nghệ
    + Luật Thủy lợi
    + Luật Du lịch
  • 🔶 20/6/2017:
    + Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
    + Luật Trợ giúp pháp lý
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13
    + Luật Cảnh vệ
    + Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
  • 🔶 21/6/2017:
    Luật Quản lý, sử dụng tài sản công
  • 🔶 15/11/2017:
    Luật Lâm nghiệp
  • 🔶 20/11/2017:
    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng
  •  🔶 21/11/2017:
    + Luật Thủy sản
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài
  • 🔶 23/11/2017:
    Luật Quản lý nợ công
  • 🔶 24/11/2017:
    Luật Quy hoạch
  • 🔶 8/6/2018:
    Luật Quốc phòng
  • 🔶 12/6/2018:
    + Luật Cạnh tranh
    + Luật An ninh mạng
    + Luật Tố cáo
  • 🔶 14/6/2018:
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao
    + Luật Đo đạc và bản đồ
  • 🔶 15/6/2018:
    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch
  • 🔶 15/11/2018:
    Luật Bảo vệ bí mật nhà nước
  • 🔶 19/11/2018:
    + Luật Đặc xá
    + Luật Trồng trọt
    + Luật Chăn nuôi
    + Luật Cảnh sát biển Việt Nam
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học
  • 🔶 20/11/2018:
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch
    + Luật Phòng, chống tham nhũng
    + Luật Công an nhân dân
  • 🔶 13/6/2019:
    + Luật Quản lý thuế
    + Luật Đầu tư công
    + Luật Kiến trúc
  • 🔶 14/6/2019:
    + Luật Thi hành án hình sự
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ
    + Luật Giáo dục
    + Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia
  • 🔶 20/11/2019:
    Bộ luật Lao động
  • 🔶 21/11/2019:
    Luật Thư viện
  • 🔶 22/11/2019:
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương
    + Luật Dân quân tự vệ
    + Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam
  • 🔶 25/11/2019:
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức
  • 🔶 26/11/2019:
    + Luật Lực lượng dự bị động viên
    + Luật Chứng khoán
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước
  • 🔶 10/6/2020:
    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp
  • 🔶 16/6/2020:
    + Luật Thanh niên
    + Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
  • 🔶 17/6/2020:
    + Luật Doanh nghiệp
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều
    + Luật Đầu tư
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng
  • 🔶 18/6/2020:
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
    + Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư
  • 🔶 19/6/2020:
    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội
  • 🔶 11/11/2020:
    Luật Biên phòng Việt Nam
  • 🔶 13/11/2020:
    + Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính
    + Luật Cư trú
    + Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
    + Luật Thỏa thuận quốc tế
  • 🔶 16/11/2020:
    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)
  • 🔶 17/11/2020:
    Luật Bảo vệ môi trường135 nghị quyết của Quốc hội được thông qua
  • 🔶 21/7/2016:
    Nghị quyết về số thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV
  • 🔶 22/7/2016:
    +Nghị quyết bầu Chủ tịch Quốc hội khóa XIV
    + Nghị quyết bầu Phó Chủ tịch Quốc hội khóa XIV
    + Nghị quyết bầu Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV
    + Nghị quyết bầu Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội khóa XIV
    + Nghị quyết bầu Tổng thư ký Quốc hội khóa XIV
    + Nghị quyết bầu Tổng kiểm toán nhà nước
  • 🔶 25/7/2016:
    Nghị quyết bầu Chủ tịch nước
  • 🔶 26/7/2016:
    + Nghị quyết về cơ cấu, tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV
    + Nghị quyết bầu Thủ tướng Chính phủ
  • 🔶 27/7/2016:
    + Nghị quyết bầu Phó Chủ tịch nước
    + Nghị quyết bầu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
    + Nghị quyết bầu Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
    + Nghị quyết về Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2017
    + Nghị quyết về cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa 14
  • 🔶 28/7/2016:
    + Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021
    + Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021
    + Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh
    + Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát "Việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2016"
    + Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát "Việc thực hiện chính sách, pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2016"
  • 🔶 29/7/2016:
    + Nghị quyết điều chỉnh dự toán chi và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2014
    + Nghị quyết điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017
  • 🔶 7/11/2016:
    Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2017
  • 🔶 8/11/2016:
    Nghị quyết về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020
  • 🔶 9/11/2016:
    Nghị quyết về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020
  • 🔶 10/11/2016:
    Nghị quyết về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020
  • 🔶 11/11/2016:
    + Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2017
    + Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 55/2010/QH12 về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp
  • 🔶 14/11/2016:
    Nghị quyết về phân bổ ngân sách trung ương năm 2017
  • 🔶 22/11/2016:
    + Nghị quyết về thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam
    + Nghị quyết dừng thực hiện chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận
  • 🔶 23/11/2016:
    + Nghị quyết về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp
    + Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV
  • 🔶 8/6/2017:
    Nghị quyết Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017
  • 🔶 12/6/2017:
    Nghị quyết về Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2018
  • 🔶 19/6/2017:
    + Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
    + Nghị quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2015
    + Nghị quyết về việc tách nội dung thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành thành Dự án thành phần
    + Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về việc sửa đổi điểm khởi đầu của đường biên giới quốc gia Việt Nam-Lào
    + Nghị quyết phê chuẩn Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
  • 🔶 20/6/2017:
    Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13
  • 🔶 21/6/2017:
    + Nghị quyết về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng
    + Nghị quyết về đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020
    + Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV
    + Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát "Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011-2016".
  • 🔶 25/10/2017:
    Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn nhiệm Bộ trưởng Bộ GTVT và Tổng thanh tra Chính phủ
  • 🔶 26/10/2017:
    Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc Bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ GTVT và Tổng thanh tra Chính phủ
  • 🔶 10/11/2017:
    Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2018
  • 🔶 13/11/2017:
    Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2018
  • 🔶 14/11/2017:
    Nghị quyết về phân bổ ngân sách trung ương năm 2018
  • 🔶 21/11/2017:
    Nghị quyết điều chỉnh lộ trình thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới theo Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông
  • 🔶 22/11/2017:
    Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc-Nam phía Đông giai đoạn 2017-2020
  • 🔶 24/11/2017:
    + Nghị quyết về Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Cảng hàng không quốc tế Long Thành
    + Nghị quyết về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh
    + Nghị quyết về hoạt động chất vấn tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV
    + Nghị quyết về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả
  • 🔶 8/6/2018:
    Nghị quyết Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018
  • 🔶 12/6/2018:
    + Nghị quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2016
    + Nghị quyết về Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2019
  • 🔶 15/6/2018:
    + Nghị quyết về tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
    + Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến hết năm 2018”
    + Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy giai đoạn 2014-2018”
    + Nghị quyết về hoạt động chất vấn tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV
    + Nghị quyết kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV
  • 🔶 23/10/2018:
    + Nghị quyết bầu Chủ tịch nước
    + Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn nhiệm Bộ trưởng Bộ thông tin và truyền thông đối với ông Trương Minh Tuấn
  • 🔶 24/10/2018:
    Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông
  • 🔶 25/10/2018:
    Nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn
  • 🔶 8/11/2018:
    Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2019
  • 🔶 9/11/2018:
    Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2019
  • 🔶 12/11/2018:
    + Nghị quyết về điều chỉnh Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020
    + Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương cùng các văn kiện liên quan
  • 🔶 14/11/2018:
    Nghị quyết về phân bổ ngân sách trung ương năm 2019
  • 🔶 20/11/2018:
    Nghị quyết kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV
  • 🔶 10/6/2019:
    + Nghị quyết bổ sung một điều vào Nghị quyết số 81/2014/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
    + Nghị quyết về Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2020
  • 🔶 11/6/2019:
    + Nghị quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2017
    + Nghị quyết Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019
  • 🔶 12/6/2019:
    Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
  • 🔶 14/6/2019:
    + Nghị quyết gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức Lao động Quốc tế về Áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể
    + Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát "Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em"
    + Nghị quyết về tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị
    + Nghị quyết về hoạt động chất vấn tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV
    + Nghị quyết kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV
  • 🔶 11/11/2019:
    Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2020
  • 🔶 12/11/2019:
    Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2020
  • 🔶 14/11/2019:
    Nghị quyết về phân bổ ngân sách trung ương năm 2020
  • 🔶 18/11/2019:
    Nghị quyết phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030
  • 🔶 22/11/2019:
    + Nghị quyết miễn nhiệm chức vụ Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội khóa XIV
    + Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Y tế
  • 🔶 25/11/2019:
    + Nghị quyết bầu giữ chức vụ Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV
    + Nghị quyết bầu giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội khóa XIV
  • 🔶 26/11/2019:
    + Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án Hồ chứa nước Ka Pét, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận
    + Nghị quyết về khoanh nợ tiền thuế, xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước
    + Nghị quyết về Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn I
  • 🔶 27/11/2019:
    + Nghị quyết về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án
    + Nghị quyết thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội
    + Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước bổ sung Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005 và Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia
    + Nghị quyết về tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về phòng cháy và chữa cháy
    + Nghị quyết về hoạt động chất vấn tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV
    + Nghị quyết kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV
  • 🔶 8/6/2020:
    + Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh Châu Âu
    + Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa một bên là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và một bên là Liên minh Châu Âu và các nước thành viên Liên minh Châu Âu
    + Nghị quyết gia nhập Công ước số 105 của Tổ chức Lao động
    quốc tế về Xóa bỏ lao động cưỡng bức
  • 🔶 9/6/2020:
    Nghị quyết về Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2021
  • 🔶 10/6/2020:
    + Nghị quyết Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020
    + Nghị quyết về kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp được quy định tại Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 28/2016/QH14 ngày 11 tháng 11 năm 2016 của Quốc hội
  • 🔶 11/6/2020:
    + Nghị quyết bầu Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia
    + Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn nhiệm chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021
    + Nghị quyết miễn nhiệm chức vụ Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV
  • 🔶 12/6/2020:
    + Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia về danh sách các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng bầu cử quốc gia
    + Nghị quyết bầu giữ chức vụ Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV
  • 🔶 18/6/2020:
    + Nghị quyết về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp đầu tư theo Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa một bên là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và một bên là Liên minh Châu Âu và các nước thành viên Liên minh Châu Âu
    + Nghị quyết phân bổ vốn viện trợ không hoàn lại, điều chỉnh dự toán chi ngân sách nhà nước và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2018
  • 🔶 19/6/2020:
    + Nghị quyết về thí điểm một số cơ chế, chính sách tài chính-ngân sách đặc thù đối với thành phố Hà Nội
    + Nghị quyết về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác
    + Nghị quyết về việc chuyển đổi phương thức đầu tư một số dự án thành phần tại Nghị quyết số 52/2017/QH14 về chủ trương đầu tư Dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc- Nam phía Đông giai đoạn 2017-2020
    + Nghị quyết về việc thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia
    + Nghị quyết về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng
    + Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030
    + Nghị quyết về tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em
    + Nghị quyết kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV
  • 🔶 3/11/2020:
    Nghị quyết về việc bãi nhiệm đại biểu Quốc hội Phạm Phú Quốc
  • 🔶 11/11/2020:
    + Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2021
    + Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhiệm kỳ 2016-2021
  • 🔶 12/11/2020:
    + Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ trưởng Bộ Y tế, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhiệm kỳ 2016-2021
    + Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
    + Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2021
  • 🔶 13/11/2020:
    + Nghị quyết về phân bổ ngân sách trung ương năm 2021
    + Nghị quyết về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc
  • 🔶 16/11/2020:
    Nghị quyết tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • 🔶 17/11/2020:
    + Nghị quyết thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế
    + Nghị quyết về Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026
    + Nghị quyết về tiếp tục thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề, chất vấn trong nhiệm kỳ khóa XIV và một số nghị quyết trong nhiệm kỳ khóa XIII
    + Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV

xv.jpg
Nguồn: Sách 80 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2026
(Nxb Thông tấn 2025)

🔶 Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, diễn ra ngày 23/5/2021 trong bối cảnh cả nước phòng, chống đại dịch COVID-19. Hơn 69 triệu cử tri đã nêu cao tinh thần trách nhiệm và ý thức công dân, tham gia bỏ phiếu bầu 499 đại biểu Quốc hội khóa XV, với tỷ lệ đi bầu đạt 99,60%.

Thành công của cuộc bầu cử không chỉ khẳng định niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, mà còn tạo nền tảng vững chắc để Quốc hội khóa XV thực hiện trọng trách lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước.

DẤU ẤN NHIỆM KỲ

Quốc hội khóa XV được bầu và hoạt động trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đang lan rộng khắp thế giới, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính mạng, cuộc sống của hàng trăm triệu người, trong đó có Việt Nam và các điểm nóng, xung đột quân sự, thương mại diễn biến nhanh, khó lường tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế-xã hội của mọi quốc gia. Trước tình hình đó, Quốc hội đã thể hiện bản lĩnh chính trị và trách nhiệm cao trước Nhân dân, đưa ra những quyết định kịp thời giải quyết những vấn đề cấp bách chưa có tiền lệ, để lại những dấu ấn nổi bật.
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã tổ chức 10 kỳ họp thường kỳ và 9 kỳ họp bất thường để kịp thời xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng, cấp bách của đất nước, nhất là trong bối cảnh phòng, chống đại dịch COVID-19 và phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội.

Đặc biệt, Kỳ họp bất thường thứ chín và Kỳ họp thường kỳ thứ chín, Quốc hội đã thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và nhiều luật, tạo cơ sở pháp lý cải cách bộ máy chính quyền theo hướng “tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”-bước chuẩn bị để đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã thực hiện việc kiện toàn nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt của Nhà nước và Chính phủ, thể hiện tinh thần chủ động, trách nhiệm và bản lĩnh chính trị cao. Các quyết sách và thay đổi nhân sự được thực hiện theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, bảo đảm ổn định và giữ vững kỷ cương trong bộ máy nhà nước. Những chuyển động mạnh mẽ trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XV khẳng định vai trò trung tâm của Quốc hội trong hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.

🔶 ĐỔI MỚI CĂN BẢN TƯ DUY XÂY DỰNG PHÁP LUẬT, ĐÁP ỨNG KỊP THỜI YÊU CẦU CUỘC SỐNG

Trong nhiệm kỳ khóa XV, công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội được đổi mới căn bản, chuyên nghiệp và khoa học. Tính đến tháng 6/2025, qua 9 kỳ họp thường kỳ và 9 kỳ họp bất thường, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, thông qua 99 dự án luật, 165 nghị quyết, trong đó có nhiều nghị quyết quy phạm pháp luật, đáp ứng các yêu cầu và đòi hỏi cấp bách của cuộc sống.

- SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA HIẾN PHÁP NĂM 2013 

Một trong những nội dung quan trọng của Kỳ họp thứ chín là Quốc hội đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, thông qua 34 luật, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp tinh gọn, giảm cấp trung gian, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia và địa phương, tái cấu trúc toàn diện không gian phát triển đất nước.

- TIẾP TỤC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ, PHÁP LUẬT; THÁO GỠ ĐIỂM NGHẼN; MỞ ĐƯỜNG CHO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

Bám sát thực tiễn, chủ trương, nghị quyết của Đảng, với tinh thần đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp, pháp luật đi trước, mở đường-khâu “đột phá của đột phá”, kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV kịp thời thể chế hóa các chủ trương và các nghị quyết chiến lược của Đảng, tháo gỡ các “điểm nghẽn”, khai thông các nguồn lực, mở đường, tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới, sắp xếp bộ máy chính quyền theo hướng “tinh, gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

🔶 QUYẾT ĐỊNH NHIỀU VẤN ĐỀ ĐẶC BIỆT QUAN TRỌNG, ĐẶC THÙ, MANG TÍNH ĐỘT PHÁ, TẦM NHÌN DÀI HẠN

Trong nhiệm kỳ khóa XV, Quốc hội đã xem xét, quyết định hệ thống các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2025; xem xét quyết định quy hoạch sử dụng đất quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; thông qua Nghị quyết thành lập thành phố Huế trực thuộc Trung ương, Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam; Nghị quyết về cơ chế đặc thù phát triển nhà ở xã hội; Nghị quyết về miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông... trong hệ thống giáo dục quốc dân; quyết định chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035, v.v..

Quốc hội đã quyết định nhiều vấn đề về pháp lý hệ trọng, cụ thể hóa chủ trương của Đảng, tạo cơ sở pháp lý để “sắp xếp lại giang sơn”, giải phóng sức sản xuất, mở rộng không gian phát triển, đưa đất nước tiến vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, hùng cường, hạnh phúc.

- THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT VỀ VIỆC SẮP XẾP ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH

Tại Kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025. Từ ngày 1/7/2025, 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh chính thức đi vào hoạt động theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

- SẮP XẾP TINH GỌN TỔ CHỨC CÁC CƠ QUAN CỦA QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦ

Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, tại Kỳ họp bất thường lần thứ chín (12-19/2/2025), Quốc hội đã thông qua 4 luật và các nghị quyết xử lý một số vấn đề liên quan đến việc sắp xếp tổ chức của Quốc hội, Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV. Theo đó, cơ cấu tổ chức bộ máy của Quốc hội từ 10 cơ quan và 3 cơ quan trực thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước đây được sáp nhập và nâng cấp thành 8 cơ quan; cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ từ 22 bộ và cơ quan ngang bộ được sáp nhập và nâng cấp thành 14 bộ và 3 cơ quan ngang bộ.

- QUYẾT ĐỊNH, THÔNG QUA NHIỀU NGHỊ QUYẾT QUAN TRỌNG

Tại Kỳ họp thứ mười, Quốc hội quyết định và thông qua nhiều nghị quyết quan trọng: Nghị quyết về tổng kết công tác nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2026; xem xét, quyết định chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2030, Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; chăm sóc sức khỏe Nhân dân, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035; điều chỉnh quy hoạch tổng thể quốc gia giai đoạn 2021-2030, v.v..

Đặc biệt, Quốc hội đã thông qua các nghị quyết về công tác nhân sự, kiện toàn bộ máy Quốc hội và Chính phủ; thảo luận góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV; chuẩn bị công tác bầu cử Quốc hội khóa XVI.

🔶 HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT KHÔNG NGỪNG ĐƯỢC CẢI TIẾN, TẬP TRUNG VÀO NHỮNG VẤN ĐỀ BỨC XÚC CỦA CUỘC SỐNG

Công tác giám sát của Quốc hội khóa XV không ngừng được cải tiến qua mỗi kỳ họp với sự giám sát của nhiều tổ chức, nhiều hình thức; được triển khai toàn diện, đồng bộ, ngày càng đi vào thực chất; bám sát những vấn đề lớn, nổi lên trong đời sống kinh tế-xã hội của đất nước. Lần đầu tiên Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức “giám sát lại”, “chất vấn lại”; ban hành các nghị quyết về chương trình giám sát, về giám sát chuyên đề, về kết quả giám sát, v.v..., góp phần quan trọng nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả cũng như tăng tính dân chủ, pháp quyền, công khai, minh bạch trong hoạt động giám sát; được cử tri, Nhân dân đánh giá cao.

- "GIÁM SÁT LẠI" BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CÁC YÊU CẦU KIẾN NGHỊ

Tại kỳ họp thứ chín, Quốc hội đã xem xét Báo cáo của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân gửi đến Kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa XV và Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến Kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XV. Quốc hội đã dành thời gian chất vấn và trả lời chất vấn, tập trung vào lĩnh vực gắn bó mật thiết với đời sống nhân dân và công tác quản lý nhà nước. Xem xét Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình giám sát năm 2025, thông qua Nghị quyết về Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2026.

- GIÁM SÁT TOÀN BỘ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

Tại Kỳ họp thứ mười, các đại biểu nghe các báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện kiểm soát Nhân dân Tối cao, Kiểm toán nhà nước. Quốc hội tập trung thảo luận, đánh giá, từ đó đưa ra những kiến nghị với Quốc hội.

Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (sửa đổi), về vai trò của chính quyền cơ sở và vấn đề ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số trong hoạt động giám sát, việc bảo đảm thông tin giám sát liên thông từ tỉnh đến xã, những vấn đề quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường, phòng chống tham nhũng, lãng phí, bảo vệ quyền con người, quyền công dân,... là những nội dung được quan tâm tại kỳ họp.

🔶HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG, HIỆU QUẢ, ĐI VÀO CHIỀU SÂU, GÓP PHẦN TẠO MÔI TRƯỜNG THUẬN LỢI PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Trong nhiệm kỳ khóa XV, mặc dù tình hình thế giới có những biến động nhanh, phức tạp, khó lường, Quốc hội đã tích cực, chủ động đẩy mạnh hoạt động đối ngoại song phương và đa phương, ngoại giao nghị viện, có nhiều dấu ấn quan trọng, nổi bật. Quan hệ với các nước láng giềng, các đối tác chiến lược và bạn bè truyền thống tiếp tục được chú trọng; hoạt động đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả.

Quốc hội có nhiều sáng kiến trong hợp tác với nghị viện các nước, các khu vực và Nghị viện thế giới (IPU); góp phần quan trọng vào việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước; nâng cao vị thế, hình ảnh của Việt Nam nói chung và Quốc hội Việt Nam nói riêng trên trưởng quốc tế.

🔶 ĐÓNG GÓP TÍCH CỰC TRỌNG NGOẠI GIAO NGHỊ VIỆN

Hoạt động ngoại giao nghị viện đa phương được triển khai hiệu quả, góp phần giải quyết các thách thức mang tính toàn cầu, khẳng định Quốc hội Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế và khu vực qua việc tham gia chủ động, tích cực vào các diễn đàn liên nghị viện mà Quốc hội Việt Nam là thành viên.

🔶 NGÀY 1/7/2025 - DẤU MỐC LỊCH SỬ

Bắt đầu từ ngày 1/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức được vận hành. Đây là dấu mốc lịch sử trong 80 năm hoạt động của Quốc hội nói riêng và cả nước nói chung.

🔶 TIÊN PHONG ỨNG DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ

Việc trang bị kiến thức, kỹ năng số cho đại biểu và cán bộ Quốc hội nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nghị trường, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia là việc cấp thiết.

Ngày 13/9/2025, Đảng ủy Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tổ chức Hội nghị chuyên đề “Bình dân học vụ số-Quốc hội số: Khung kiến thức, kỹ năng số cho Quốc hội hiện đại", khẳng định vai trò tiên phong của Quốc hội trong việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT

🔶 KỲ HỌP THỨ CHÍN, QUỐC HỘI KHÓA XV - NHỮNG QUYẾT SÁCH LỊCH SỬ

Kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa XV (từ ngày 5/5 đến 27/6/2025) là một kỳ họp đặc biệt, diễn ra trong bối cảnh đất nước đang cải cách thể chế, tinh gọn tổ chức bộ máy và chuyển mình mạnh mẽ trong hành trình phát triển nhanh và bền vững. Những kết quả nổi bật trong kỳ họp này phản ánh tầm vóc, bản lĩnh, trí tuệ của Quốc hội, minh chứng sống động cho sự đồng thuận xuyên suốt của ý Đảng, lòng dân, đặt nền móng pháp lý vững chắc cho giai đoạn phát triển mới.

Tại kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua 34 luật, chiếm hơn 50% tổng số luật được ban hành tại các kỳ họp trước đó; thông qua 14 Nghị quyết quy phạm pháp luật. Đặc biệt, Quốc hội đã thảo luận và thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, cùng với nhiều luật, nghị quyết đồng bộ, tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới, sắp xếp bộ máy chính quyền địa phương hai cấp.

Quốc hội đã thảo luận các báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh và ngân sách Nhà nước năm 2024 và những tháng đầu năm 2025 và quyết định nhiều vấn đề quan trọng khác nhằm phát huy tối đa nguồn lực, phục vụ quốc kế dân sinh.

Quốc hội đã quyết định rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; thông qua Nghị quyết thành lập Hội đồng Bầu cử quốc gia; thông qua Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2026; tiến hành chất vấn đối với hai nhóm vấn đề thuộc lĩnh vực tài chính và giáo dục-đào tạo. Công tác nhân sự được thực hiện theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

ky-hop-thu-9.jpg

🔶 KỲ HỌP THỨ MƯỜI - KHỞI ĐẦU CHO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

Sau 40 ngày (20/10/2025 - 11/12/2025) làm việc liên tục, khẩn trương, nghiêm túc, với tinh thần khoa học, đổi mới, trách nhiệm cao, Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra. Kỳ họp diễn ra trong không khí toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang quyết tâm, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, ra sức thi đua, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội do Đại hội XIII của Đảng đề ra, lập thành tích chào mừng Đại hội XIV sắp tới. Kỳ họp tổng kết nhiệm kỳ hoạt động khóa XV và chuẩn bị bước khởi đầu cho thời kỳ phát triển mới của đất nước.

Đây là kỳ họp “trên cả đặc biệt" với khối lượng công việc lớn, nhiều nội dung có ý nghĩa quan trọng, chiến lược mà Quốc hội xem xét, giải quyết. Tại Kỳ họp này, Quốc hội đã xem xét, thông qua 51 luật, 08 nghị quyết quy phạm pháp luật - đây là con số lớn nhất từ trước đến nay tại một kỳ họp Quốc hội; tiến hành tổng kết công tác nhiệm kỳ 2021 - 2026 của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; xem xét, quyết định công tác nhân sự thuộc thẩm quyền; thảo luận, góp ý kiến về dự thảo Văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; xem xét, quyết định các vấn đề về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quan trọng quốc gia, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia…

Tinh thần làm việc, ý thức trách nhiệm của các đại biểu tại Kỳ họp thứ mười nói riêng và của Quốc hội khóa XV nói chung một lần nữa khẳng định Quốc hội hết lòng vì nước, vì dân, xứng đáng với niềm tin, kỳ vọng của Nhân dân.

ky-10.jpg

CÁC LUẬT ĐƯỢC QUỐC HỘI KHÓA XV THÔNG QUA

🔶 Trong nhiệm kỳ 2021-2026, Quốc hội khóa XV xem xét, quyết định thông qua 149 Luật và 225 Nghị quyết.

🔶 Đặc biệt, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 - đánh dấu bước đột phá quan trọng trong quá trình đổi mới công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương lớn của Đảng, nhất là về sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng “tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân, sát thực tiễn”.

🔶 Số lượng các Luật và Nghị quyết được thông qua tại các kỳ họp:

- Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV (20/10 - 13/11/2021): Quốc hội thông qua 2 Luật; 12 Nghị quyết

- Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội khóa XV (4 - 11/1/2022): Quốc hội thông qua 1 Luật; 3 Nghị quyết chuyên đề và Nghị quyết chung của Kỳ họp

- Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV (23/5 - 16/6/2022): Quốc hội thông qua 5 Luật; 16 Nghị quyết chuyên đề và Nghị quyết chung của Kỳ họp

- Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV (20/10 - 15/11/2022): Quốc hội đã thông qua 6 Luật; 3 Nghị quyết quy phạm pháp luật

- Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV (22/5 - 24/6/2023): Quốc hội thông qua 8 Luật; 17 Nghị quyết.

- Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV (23/10 - 28/11/2023): Quốc hội thông qua 7 Luật; 8 Nghị quyết.

- Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV (15 - 18/1/2024): Quốc hội thông qua 2 Luật

- Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV (20/5 - 29/6/2024): Quốc hội thông qua 11 Luật; 21 Nghị quyết

- Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV (21/10 - 30/11/2024): Quốc hội thông qua 18 Luật; 21 Nghị quyết.

- Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV (12-19/2/2025): Quốc hội thông qua 4 Luật

- Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV (5/5 - 27/6/2025): Quốc hội thông qua 34 Luật, chiếm 52,3% tổng số luật được ban hành tại 17 kỳ họp của nhiệm kỳ khóa XV; 14 Nghị quyết quy phạm pháp luật

- Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV (20/10 - 11/12/2025): Quốc hội thông qua thông qua 51 Luật; 39 Nghị quyết (trong đó có 8 Nghị quyết quy phạm pháp luật). Đây là một khối lượng lập pháp rất lớn, chiếm gần 30% tổng số luật, nghị quyết quy phạm được ban hành của cả nhiệm kỳ.

51-luat.jpg
39-nq.jpg
Ngày bầu cử: Chủ Nhật, 15/03/2026
00
00
00
00

Ngày

00
00
00
00

Giờ

00
00
00
00

Phút

00
00
00
00

Giây

Ý NGHĨA CUỘC BẦU CỬ

🔶 Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận.

🔶 Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031:

-  Được tổ chức vào Chủ nhật, ngày 15 tháng 3 năm 2026 trên phạm vi cả nước

- Trong bối cảnh công cuộc đổi mới ở nước ta sau 40 năm đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội

- Cũng là thời điểm nước ta đang tích cực triển khai việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị: Tổ chức lại địa giới hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp bảo đảm tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả để tiến vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

🔶 Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước

-  Diễn ra ngay sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

-  Là bước cụ thể hóa nghị quyết gắn liền với công tác cán bộ của Đảng, liên quan đến trách nhiệm của các cấp, các ngành

-  Là nơi để cử tri phát huy quyền làm chủ của công dân, lựa chọn bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới.

🔶 Góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện  Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

NHIỀU ĐIỂM MỚI QUAN TRỌNG

🔶 Rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, ấn định ngày bầu cử vào ngày 15/3/2026, sớm hơn 2 tháng so với các cuộc bầu cử trước;

🔶 Rút ngắn thời gian trong các bước của quy trình bầu cử: thời gian từ khi kết thúc nộp hồ sơ ứng cử đến ngày bầu cử giảm từ 70 ngày còn 42 ngày;

🔶 Các mốc thời gian hiệp thương, công bố danh sách người ứng cử, giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng được điều chỉnh tương ứng, bảo đảm tính đồng bộ và phù hợp thực tiễn;

🔶 Điều chỉnh thẩm quyền xác định khu vực bỏ phiếu và tổ chức phụ trách bầu cử theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp;

🔶 Đa dạng hóa phương thức vận động bầu cử, bên cạnh hình thức tiếp xúc cử tri trực tiếp, cho phép tổ chức trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp với trực tuyến với điều kiện bảo đảm kỹ thuật, an toàn thông tin và an ninh mạng;

🔶 Có cơ chế cho phép Hội đồng Bầu cử quốc gia chủ động điều chỉnh thời gian và hướng dẫn các tổ chức phụ trách bầu cử khi phát sinh tình huống thực tế, đảm bảo tiến độ và hiệu quả tổ chức bầu cử.

2025-11-15-vn-qh16-ctac-02-b1-h84.jpg
hiep-thuong.jpg

CÁC MỐC THỜI GIAN TRƯỚC BẦU CỬ

15/03/2026

NGÀY BẦU CỬ TOÀN QUỐC ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XVI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2026-2031

30/11/2025

- Thành lập:

   + Ủy ban bầu cử ở cấp tỉnh

   + Ủy ban bầu cử ở cấp xã

- UBTVQH dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử ĐBQH

- Thường trực HĐND dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND ở các cấp

10/12/2025

- UBTWMTTQVN tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ nhất

- UBMTTQVN cấp tỉnh, cấp xã tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ nhất

15/12/2025

- UBTVQH điều chỉnh lần thứ nhất cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử ĐBQH

- Thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp xã điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND cùng cấp

25/12/2025

- Hội đồng bầu cử quốc gia ấn định và công bố số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng ĐBQH được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử

- Ủy ban bầu cử ở các cấp ấn định và công bố số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu HĐND được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử

4/1/2026

- Thành lập Ban bầu cử ĐBQH ở mỗi đơn vị bầu cử

- Thành lập Ban bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh, cấp xã

31/1/2026

- Thành lập Tổ bầu cử ở mỗi khu vực bỏ phiếu

3/2/2026

- UBTWMTTQVN tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ hai

- UBMTTQVN cấp tỉnh, cấp xã tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ hai

- Niêm yết danh sách cử tri. Cử tri khiếu nại về việc lập danh sách cử tri trong vòng 30 ngày kể từ ngày niêm yết

5/2/2026

- UBTVQH điều chỉnh lần thứ hai cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử ĐBQH

20/2/2026

- UBTWMTTQVN tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ ba

- UBMTTQVN cấp tỉnh, cấp xã tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ ba

22/2/2026

- Ban thường trực UBTWMTTQVN, Ban thường trực UBMTTQVN các cấp gửi biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đến Hội đồng bầu cử quốc gia và các cơ quan, tổ chức theo quy định

26/2/2026

- HĐBCQG lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước theo danh sách do Ban thường trực UBTWMTTQVN và Ủy ban bầu cử ở tỉnh gửi đến Ủy ban bầu cử lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND theo từng đơn vị bầu cử

27/2/2026

- Tổ bầu cử niêm yết danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH, người ứng cử đại biểu HĐND tại khu vực bỏ phiếu

2/3/2026

- Ban bầu cử nhận và phân phối tài liệu, phiếu bầu cử cho Tổ bầu cử

3/3/2026

- Thời gian vận động bầu cử được bắt đầu từ ngày công bố danh sách chính thức ứng cử và kết thúc trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24h

5/3/2026

- HĐBCQG, Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử nhận xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử

10/3/2026

- Cơ quan lập danh sách cử tri giải quyết khiếu nại về bổ sung danh sách cử tri

CÁC MỐC THỜI GIAN SAU BẦU CỬ

18/3/2026

- Ủy ban bầu cử lập và gửi biên bản xác nhận kết quả bầu cử ĐBQH, đại biểu HĐND cấp tỉnh và cấp xã

22/3/2026

- Ủy ban bầu cử tỉnh lập biên bản xác nhận kết quả bầu cử ĐBQH, gửi HĐBCQG

- Ấn định ngày bầu cử thêm, nếu có

25/3/2026

- Hạn cuối HĐBCQG công bố kết quả bầu cử, danh sách trúng cử ĐBQH

- Khiếu nại về kết quả bầu cử ĐBQH gửi đến HĐBCQG, khiếu nại kết quả bầu cử đại biểu HĐND gửi đến Ủy ban bầu cử chậm nhất 3 ngày kể từ ngày công bố kết quả bầu cử

28/3/2026

- Ủy ban bầu cử xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu HĐND trong thời gian 7 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại

- HĐBCQG xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử ĐBQH trong thời gian 20 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại

30/3/2026

- HĐBCQG lập biên bản tổng kết bầu cử đại biểu Quốc hội, gửi Ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, UBTWMTTQVN

4/4/2026

- Ủy ban bầu cử cấp xã lập biên bản tổng kết bầu cử đại biểu HĐND, gửi HĐND, UBND, UBMTTQ cùng cấp và cấp tỉnh

5/4/2026

- Xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND

- HĐBCQG thực hiện nhiệm vụ sau khi kết quả bầu cử được công bố

6/4/2026

- Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI (hai mươi ngày sau bầu cử xong).

Tin tức - Sự kiện

Hoạt động bầu cử địa phương

Mạng xã hội